Tác giả Nguyễn Hồng Huấn

(Cafenews)- Người giác ngộ biết sử dụng những quy luật tạo dựng để tạo nên những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Năng lượng họ truyền đi là năng lượng tích cực thông qua ý nghĩ, lời nói và việc làm. Và thông qua sự tạo dựng, họ trải nghiệm chính mình.

Những sứ giả tinh thần 

Một cộng đồng sống trong một cái hang động. Mặc dù cái động tối tăm và lạnh lẽo nhưng vì cộng đồng sống từ thế hệ này sang thế hệ khác chỉ biết có nó nên họ tin nó là cái thế giới duy nhất, ánh sáng tỏa ra từ những đám cháy là nguồn ánh sáng quyền năng duy nhất.

Rồi một ngày kia có người phát hiện một tia sáng nhỏ tí chiếu xuyên qua lòng đất chui vào trong hang. Lần theo tia sáng anh đi ra ngoài thế giới rộng lớn bao la. Đầu tiên, anh chưa quen với ánh sáng chói lòa, nhưng rồi anh cũng thích nghi và sống một cuộc sống thực thụ khi được soi sáng và sưởi ấm bởi ánh sáng Mặt Trời.

Sau một thời gian, anh nhớ đến cộng đồng của mình còn khổ sở chui rúc dưới lòng đất và quyết định quay về để chia sẻ với họ điều anh phát hiện và mong muốn giúp đỡ họ về với thế giới trên đây.

Những người dám du hành ngược lên trên, tìm thấy ánh sáng và quay trở lại chia sẻ với cộng đồng của mình là những sứ giả tinh thần. Và người ta đã đối xử ra sao với những sứ giả tinh thần?

Người ta hoặc là lờ họ đi. “Toàn bọn điên”, người ta nghĩ. Bởi vì người ta đã để mình bị ru vào giấc ngủ say trong tiện nghi vật chất, và đang yên ổn trong sự mềm mại ấm cúng, no say với rượu bia và thức ăn ngon. Người ta chỉ biết có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, và với người ta, thế giới tinh thần của sự sống chỉ là những điều tưởng tượng bệnh hoạn.

Hoặc là người ta giết chết họ. Người ta cho rằng những điều mà những sứ giả tinh thần đang rao giảng khác với niềm tin của cộng đồng bấy lâu nay và có nguy cơ gây xáo trộn trật tự cuộc sống mà một bộ phận trong cộng đồng đang cố gắng duy trì. Người ta đóng đinh Giêsu Kitô, cho Socrates uống thuốc độc.

Hoặc là người ta biến họ thành thần thánh hay chúa trời để thờ phụng, cúng bái. Tiến hành nghi lễ và tôn thờ hình dạng của những sứ giả tinh thần làm lu mờ bản chất và thông điệp mà các sứ giả đến để truyền tải cho chúng ta.

Những sứ giả tinh thần đến đây để cho chúng ta biết về một thế giới cao hơn thế giới vật chất, đó là thế giới tinh thần; cho chúng ta biết chúng ta không chỉ có cơ thể và tâm trí, chúng ta là sự sống vĩnh hằng. Họ chỉ cho chúng ta con đường tinh thần. Họ đến và nói rằng, hãy nhìn, ta đến đây sống trong hình dạng con người để chỉ cho các người biết ta và các người thực sự là ai và làm sao để sống với sự biết ấy. Giêsu Kitô nói rằng, “Nếu có niềm tin ở những gì ta rao giảng, các người có thể làm được tất cả những gì ta đã làm”. (Phúc âm John), và, “Nếu các người muốn giống như ta, ta sẽ giúp các người biết rằng chúng ta giống nhau. Nếu các người muốn khác ta, ta sẽ đợi đến khi các người thay đổi suy nghĩ”. (Một khóa học về những điều kỳ diệu – A course in miracles). Đức Phật thì nói rằng: “Ta không phải là người duy nhất thành Phật, trước Ta đã có và sau Ta sẽ có nhiều người thành Phật như Ta”.

Danh từ “Phật” có nghĩa là người giác ngộ.

Nhưng thông điệp của họ trải qua hàng ngàn năm qua bị che mờ, hiểu nhầm và bóp méo bởi các tổ chức tôn giáo, nhiều kinh sách được xem là chép lại những lời họ dạy thì lại trải qua hàng thế kỷ sao chép, biên dịch, chỉnh sửa, bổ sung dẫn đến cuối cùng chẳng liên quan gì đến chân lý mà họ đã thực sự rao giảng, và vì thế chưa thể giúp con người thay đổi nhận thức và trở nên giác ngộ trên quy mô rộng; chỉ trừ một số ít người vượt lên trên niềm tin và giáo điều để đi sâu vào nắm bắt thông điệp của họ truyền tải và trở nên giác ngộ, nhưng số lượng những người như vậy là vô cùng nhỏ.

Đó là những người có thể đi sâu và vượt lên trên những thông điệp bị bóp méo trong kinh sách để có thể nhận ra những tia sáng chân lý vẫn còn nằm ở trung tâm của niềm tin và tín điều sai lệch. 

Làn sóng nhận thức mới

Thế giới loài người đang đi theo hai chiều hướng: sự phát triển tiến dần về đỉnh điểm trong sự điên rồ của cái tôi, trên phương diện cá nhân và trên phương diện tập thể; và một làn sóng nhận thức mới ngày càng phát triển trong biết chính mình và ngày càng nhiều người đã trở nên giác ngộ.

Trên phương diện cá nhân, cái tôi đã gây ra biết bao nhiêu đau thương cho chính bản thân mình và lên người khác. Còn trên phương diện tập thể, Winston Churchill mô tả lịch sử loài người là “hết sự nguyền rủa này đến sự nguyền rủa khác” với những cuộc chiến tranh và thanh trừng đẫm máu, đau thương và tàn khốc; với nạn tàn phá, hủy hoại và gây ô nhiễm làm cho thiên nhiên suy kiệt và tiến dần về cõi chết.

Và sự điên rồ của cái tôi vẫn không ngừng gia tăng. Hãy xem các chương trình thời sự hàng ngày trên tivi hay đọc mục tin tức hàng ngày trên báo chí: nạn bạo lực và vô số cảnh thương tâm gây ra do mâu thuẫn giữa người với người; nạn tội phạm bắt cóc, trộm cắp, cướp của và giết người trong xã hội; nạn bạo lực, chiến tranh và khủng bố giữa dân tộc với dân tộc, giữa tôn giáo với tôn giáo, giữa quốc gia với quốc gia; nạn tàn phá rừng, hành xử tàn ác với động vật, thải chất độc ra sông và biển gây hủy diệt hệ sinh thái sống dưới nước, gây ô nhiễm không khí dẫn đến nguy cơ thủng tầng ôzôn và khiến cho Trái Đất ngày càng nóng lên làm băng tan chảy… dẫn đến thiên tai, sóng thần, lũ lụt… Tất cả đều xuất phát từ lòng tham, ham muốn tiền tài và quyền lực, sự ngu dốt và nỗi sợ hãi của cái tôi. Nếu loài người vẫn để cho cái tôi vận hành mà không thể tiến triển đi lên một tầng mức nhận thức cao hơn của sự sống, có lẽ khoảng chừng chưa đến một trăm năm nữa con người sẽ chính thức diệt vong.

Đỉnh điểm điên rồ của cái tôi là một dấu hiệu hy vọng, bởi vì giống như một hình dạng nào đó trước khi kết thúc cũng phải trải qua giai đoạn đỉnh điểm của khó khăn. Con chim non cảm thấy không thể chịu đựng được cảnh sống tù túng trong vỏ trứng, nó đi đến quyết định phá vỡ vỏ trứng để bước ra ngoài sống một cuộc đời tự do. Con sâu một ngày nọ cảm thấy trong người vô cùng khó chịu, nó không thể tiếp tục bước đi được nữa, và nó quyết định dừng lại, và bằng tất cả sức lực nó phá tan lớp vỏ kén đã bấy lâu nay níu kéo nó sống trong kiếp sống trườn bỏ tù túng để rồi thoát ra sống một cuộc đời mình tự do giữa bầu trời.

Ngày nay, có một làn sóng nhận thức mới phát triển ngay bên trong và đặc biệt cả bên ngoài các tổ chức tôn giáo. Ngày càng có nhiều người có đạo đã có thể vượt lên trên sự đồng hóa chính mình với tôn giáo, với hệ thống niềm tin và tín điều của tôn giáo mình để khám phá ra chân lý, để trở thành người giác ngộ và tự do.

Nhiều cá nhân có đạo và một số tổ chức tôn giáo cũng ngày càng rộng mở trong việc truyền tải những thông điệp gắn liền với các vấn đề của đời sống cá nhân và gắn liền với đời sống xã hội, chứ không nặng nề giáo lý như trước đây. Và đặc biệt, ngày càng nhiều người không có đạo đang hướng đời sống của mình trong việc nâng cao đời sống tinh thần thông qua tự mình tìm kiếm và thực hành con đường chân lý. Họ nhận ra sự điên rồ của cái tôi và mong muốn tự mình tháo gỡ bản thân ra khỏi sự điên rồ đó. Họ nhận ra đau khổ gây ra bởi cái tôi và mong muốn tự mình diệt khổ.

Họ nhận ra tội lỗi của cái tôi và mong muốn tự mình cứu chuộc. Họ nhận ra sự giam cầm của cái tôi và hướng đời sống của mình vào con đường giải thoát và giác ngộ. Họ đọc sách, tham gia các khóa học, các khóa thiền, các khóa ẩn cư và thực hành trong đời sống. Nhiều pháp môn chẳng hạn như thiền không chỉ được thực hành bởi những người có đạo, mà nó đang được đông đảo những người không có đạo thực hành trong đời sống hàng ngày.

Họ nhận ra rằng chất lượng trong đời sống tinh thần của một người là cao hay thấp ngày nay không được đo lường bởi mức độ ngoan đạo, niềm tin và tín ngưỡng của người đó, cũng không phụ thuộc vào việc người đó có đạo hay không, mà được đo lường bởi mức độ nhận thức của người đó về chính mình và biểu hiện thông qua cách hành xử của họ với chính mình và thế giới xung quanh họ.


Chân dung người giác ngộ

Người giác ngộ, có thể bắt gặp trong bất cứ nghề nghiệp nào. Sự khác nhau không đến từ việc họ làm gì, mà đến từ việc họ thực hiện công việc đó như thế nào.

Người giác ngộ biết sử dụng những quy luật tạo dựng để tạo nên những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Năng lượng họ truyền đi là năng lượng tích cực thông qua ý nghĩ, lời nói và việc làm. Và thông qua sự tạo dựng, họ trải nghiệm chính mình.

Người giác ngộ trong bất kỳ tình huống nào, thuận lợi hay khó khăn, thăng hay trầm, được hay mất, đều biết trú ngụ trong chính mình, và từ sự bình yên họ giải quyết các tình huống đời sống.

Người giác ngộ yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên và với mọi điều kiện thời tiết; họ yêu động vật; yêu cỏ cây, hoa lá, chim chóc; họ yêu biển, núi, hoàng hôn, bình minh; họ yêu bầu trời đêm; họ yêu ánh trăng; họ yêu mặt hồ, thác nước, sông, suối; và gần như họ yêu mọi thứ; họ yêu cái đẹp.

Người giác ngộ sống thuận hòa với mọi người xung quanh, họ “yêu thương hàng xóm (và tất cả mọi người) như yêu thương chính mình”.

Người giác ngộ yêu thương tất cả trẻ con, và họ cũng biết rằng trẻ con là bậc thầy biết làm sao để hân hoan, vui vẻ, bình yên, yêu thương, không phán xét, biết chấp nhận, biết nhìn thấy cái đẹp bởi vì sự sống trong trẻ con chưa bị đám mây đen tâm trí hoàn toàn làm lu mờ. Họ hiểu câu nói của Giêsu Kitô trong Phúc âm Matthew, “Trừ khi ngươi thay đổi và trở thành giống như những đứa trẻ, ngươi sẽ không bao giờ bước vào được thế giới thiên đường (của sự sống).”

Người giác ngộ biết tận hưởng và hân hoan với cuộc sống. Họ tận hưởng khi nói chuyện và vui vẻ cùng mọi người. Họ có thể tham gia tiệc tùng, ăn uống, nhảy múa, chơi thể thao, cắm trại, du lịch,… nhưng họ không bao giờ nghiện. Họ có thể thử nhiều thứ, nhưng không bám víu vào bất cứ cái gì.

Người giác ngộ, như những đứa trẻ, họ thích cười và tạo ra tiếng cười; họ có thể cười bản thân mình, nhưng không bao giờ cười người khác, họ cười với người khác.

Người giác ngộ, tình cờ gặp họ ở đâu và lúc đó họ đang làm gì, bạn đều cảm nhận được sự bình yên, an lạc thoát ra từ con người của họ.

Người giác ngộ muốn nhiều thứ khác đi, nhưng họ không phàn nàn. Họ biết phàn nàn chỉ là ước muốn của cái tôi. Khi bất cứ việc gì xảy ra, họ ngay lập tức chấp nhận từ bên trong cái hiện thực như nó là, và từ đó những gì cần phải làm để giải quyết họ sẽ làm.

Người giác ngộ, khi hoàn cảnh trao cho họ cơ hội chọn giữa là người đúng hay là người tốt, họ chọn là người tốt. Họ biết, chọn là người đúng là lựa chọn của cái tôi, trong khi chọn là người tốt là lựa chọn của sự sống và giúp họ trở về với sự sống.

Người giác ngộ không cảm thấy tội lỗi vì những việc đã làm trong quá khứ hay cảm thấy lo lắng vì những gì có thể xảy ra trong tương lai. Họ biết đó chỉ là những cảm xúc tiêu cực của tâm trí. Họ sống trong hiện tại.

Người giác ngộ tha thứ cho những lời người khác nói và những việc người khác làm. Họ biết con người hành xử như thế nào tùy thuộc vào mức độ nhận thức. Một người không thể thay đổi bằng cách thay đổi cách hành xử của người đó, mà chỉ có thể thay đổi thông qua thay đổi trong nhận thức về chính mình.

Người giác ngộ không cần ai cho phép việc họ làm, họ có thể hy sinh tất cả, kể cả cơ thể của mình, để làm những gì họ cho là cần thiết phải làm. Họ biết lắng nghe tiếng nói từ bên trong, thay vì sự ồn ào bên ngoài.

Người giác ngộ có thể bị bệnh, vì bệnh là triệu chứng của cơ thể, mọi cơ thể đều bị bệnh; Người giác ngộ đến lúc đều chết, vì chết là triệu chứng của cơ thể, mọi cơ thể đều chết. Và họ biết rằng bệnh tật và cái chết không thể chạm đến sự sống vĩnh hằng; và họ cũng không cho phép tâm trí lấy bệnh tật để đồng hóa chính mình, và làm cho bệnh tật trở nên tồi tệ hơn bản chất như nó là.

Người giác ngộ thích đọc những cuốn sách viết về đời sống tinh thần, hay nghe về những chủ đề nhằm nâng cao đời sống tinh thần, họ thích giao tiếp, trao đổi, chia sẻ với những người giác ngộ và với những người chưa giác ngộ.

Người giác ngộ thích một mình tĩnh lặng. Họ không bao giờ biết buồn chán khi ở một mình, vì đó là khoảng thời gian tuyệt vời để họ trở về trú ngụ trong sự sống chính mình.

Người giác ngộ sử dụng tất cả thời gian và cơ hội họ có thể có để tiến vào sự sống qua các cánh cửa dẫn đến giác ngộ, để trở về và trú ngụ trong chính mình.

Người giác ngộ sống trong hiện tại. Họ luôn hiện diện ở đây trong lúc này. Họ không sống trong quá khứ hay tương lai, nghĩa là họ không sống trong tâm trí. Họ bắt tâm trí sống trong và cho họ.

Người giác ngộ, có thể là bất cứ ai, nam hay nữ, trẻ hay già, sống ở nông thôn hay thành thị, trong nhà ngói hay nhà tranh, trong đền chùa, trong tù hay ngoài xã hội, có đạo hay không có đạo, có gia đình hay sống độc thân, cơ thể khỏe mạnh hay bệnh tật, ở trình độ cao hay trình độ thấp, doanh nhân hay công nhân, sếp hay lính, giàu có hay nghèo khó về vật chất…

Người giác ngộ, dù bất cứ là ai, trong bất cứ hình dạng nào, đều là một sứ giả tinh thần.

>> Kỳ 6: Cái tôi và sợ chết

>> Kỳ 5: Nhận diện cái tôi

Nguyễn Hồng Huấn


Trích từ “Biết chính mình”, sách của Nguyễn Hồng Huấn, do Thái Hà Books & NXB Lao Động ấn hành 2018