Triết lý giáo dục Phần Lan: Ít hơn có nghĩa là nhiều hơn

Hệ thống giáo dục phổ thông (GDPT) Phần Lan dựa trên triết lý LESS IS MORE – Ít hơn có nghĩa là nhiều hơn. Đây là một triết lý sống được đưa vào ứng dụng cho giáo dục. Liệu đây có phải là triết lý mà ngành giáo dục Việt Nam tâm đắc trong chuyến đi “thị sát” hệ thống giáo dục Phần Lan mới đây?
Báo chí vừa qua công bố Bộ GD&ĐT Việt Nam đang nghiên cứu khả năng nhập khẩu chương trình đào tạo của Phần Lan, một hệ thống giáo dục (GD) Phổ thông đứng đầu thế giới nhiều năm qua. Đây đúng là một tin mừng cho tất cả bậc cha mẹ có con nhỏ. Tuy nhiên sẽ có rất nhiều thách thức khi áp dụng hệ thống GD này vì nó dựa trên một triết lý giáo dục rất xa lạ và có thể khó chấp nhận được trong xã hội Việt Nam.
Ít hơn có nghĩa là nhiều hơn!
Hệ thống GDPT Phần Lan dựa trên triết lý LESS IS MORE – Ít hơn có nghĩa là nhiều hơn. Đây là một triết lý sống được đưa vào ứng dụng cho giáo dục.
Người dân Phần Lan tin tưởng vào triết lý ‘Less is More’. Nhờ vậy họ có tư duy ‘Less is More’ và thể hiện trong cuộc sống đơn giản và bình dị của họ. Nhà của họ thường chỉ vừa đủ sống. Họ không mua dư mà chỉ vừa đủ dùng. Phụ nữ ít khi dùng mỹ phẩm và không có nhiều trang phục.
Đàn ông không đòi hỏi phải có xe hơi. Trong khi đó xã hội Việt Nam cũng như nhiều nơi khác trên thế giời có triết lý sống và giáo dục – ‘MORE IS MORE’, lúc nào cũng muốn thêm chứ không muốn bớt.
Để hiểu triết lý sống ‘Less is More’ này được ứng dụng vào nền giáo dục phổ thông Phần Lan như thế nào, tôi xin nêu vài điểm đặc trưng của hệ thống sau đây:
1. Rút ngắn thời gian đào tạo phổ thông: Nhiều lựa chọn.
Trẻ em Phần Lan không bắt đầu đi học đến khi 7 tuổi. Vâng, BẢY tuổi. Dưới 7 tuổi trẻ Phần Lan chỉ có biết rong chơi. Trong khi ấy ở Việt Nam, cha mẹ bắt đầu cho con đi học lúc 3 tuổi vì sợ không theo kịp trẻ khác.
Chương trình đào tạo phổ thông chỉ 9 năm thay vì 12 năm. Đến năm 16 tuổi học sinh thi một lần thi chuẩn quốc gia và có thể chọn: 1) học tiếp để chuẩn bị vào Đại học (dưới 40% chọn hướng này); 2) học nghề cao đẳng (dưới 60%); hay 3) đi làm (dưới 5%).
2. Ít giờ trong lớp: Nhiều giờ để nghỉ và chơi.
Mỗi ngày chỉ học 5 tiết và mỗi tiết chỉ 45 phút. Mỗi giờ có 15 phút nghỉ và đây là giờ chơi đúng nghĩa của học sinh. Học sinh được tự do vui chơi ngoài trời. Học sinh Phần Lan không có học thêm sau giờ. Thường rất ít bài tập về nhà, nếu có thì trung bình mất khoản 30 phút để hoàn tất.
3. Ít thi cử: Học nhiều hơn.
Trẻ em Phần Lan rất ít khi phải thi hoặc làm bài tập ở nhà cho đến trung học. Trong thời gian 6 năm tiểu học, học sinh không có một đánh giá gì.
4. Ít môn học: Học sâu hơn.
Lượng kiến thức trong chương trình đào tạo ít hơn các chương trình đào tạo phổ thông khác và do đó cho phép học sinh có thời gian học sâu hơn.
5. Ít giờ đứng lớp: Nhiều thời gian để chuẩn bị bài dạy.
GV chỉ dạy 4 tiết/ngày và có 2 giờ/tuần cho phát triển chuyên môn. Nhờ có ít thời gian đứng lớp, GV có thời gian để chuẩn bị bài giảng tốt.
6. Ít vị trí GV: Chất lượng GV tốt hơn.
Tất cả GV phổ thông đều phải có bằng ThS và là 10% giỏi nhất lớp. Năm 2010, 6,600 hồ sơ cho 660 vị trí GV tiểu học. Lương của GV khá cao. Do đó GV phổ thông Phần Lan đều thuộc loại có học thức giỏi và có được địa vị xã hội như Bác sĩ và Luật sư.
7. Ít qui chế: Thêm niềm tin.
Chương trình đào tạo quốc gia chỉ là những hướng dẫn chung. Mấu chốt của vấn đề là ở niềm tin. Xã hội tin tưởng trường sẽ mướn GV giỏi. Trường tin tưởng vào khả năng của GV và cho GV nhiều tự do trong công tác xây dựng môi trường lớp học kiến tạo. Phụ huynh học sinh tin tưởng ở trường học và GV sẽ giáo dục con em họ tốt. GV tin tưởng ở học sinh học vì muốn học hỏi kiến thức (vì rất ít thi cử xếp hạng). Một khi xã hội đặt niềm tin vào hệ thống giáo dục thì chính phủ không cần phải xây dựng nhiều qui chế để kiểm soát.
Khi ứng dụng triết lý ‘Less is More’, Phần Lan đã thành công xây dựng nền giáo dục ‘Học 1 hiểu 10’. Và do đó từ 2001 đến nay hệ thống này hầu như đứng đầu thế giới về khoa học, toán, và đọc hàng năm. Hơn cả các nước tiên tiến trong khu vực châu Á nơi mà thời gian và kinh phí đầu tư cho giáo dục lớn hơn nhiều.
Điều nên làm!
Khoảng 1920, tất cả chó sói ở Yellowstone đã bị giết sạch do con người di dân đến đây để sinh sống. Mãi đến năm 1995, 14 con chó sói bắt ở Canada và được thả ở giữa khu rừng của công viên này với mục tiêu là gây dựng lại loài động vật này cho công viên. Ai cũng biết sói săn theo đàn vài động vật khác trong rừng kể cả bò mộng để sinh tồn.
Điều mà các khoa học gia không thể ngờ được là nó gián tiếp giúp nhiều động vật và thực vật khác phát triển. Chỉ trong vòng 15 năm, 14 con chó sói đã thay đổi cả hệ sinh thái của Yellowstone kể cả các con sông.
Việc một quốc gia đang phát triển ‘nhập khẩu’ chương trình đào tạo từ một quốc gia tiên tiến là một chiến lược có thể giúp đốt ngắn thời gian phát triển nguồn nhân lực cần thiết để đáp ứng với nhu cẩu phát triển của đất nước.
Hàn Quốc trước đây đã từng ‘nhập khẩu’ chương trình đào tạo phổ thông của Nhật cho dù giữa hai dân tộc có một lịch sử không thân thiện. Và kết quả, GD phổ thông đã góp phần cho sự phát triển vượt bực của Hàn Quốc trong mấy chục năm qua.
Do đó việc Việt Nam xem xét ‘nhập khẩu’ một chương trình đào tạo phổ thông từ nước ngoài là điều nên làm. Thực chất thì nội dung chương trình GD phổ thông của tất cả các quốc gia không khác nhau nhiều lắm trừ một số môn có tính đặc thù của quốc gia đó như lịch sử và ngôn ngữ.
Khác nhau chính là ở phương pháp giảng dạy và môi trường học tập. Điều khác biệt giúp Phần Lan thành công hơn các quốc gia tiên tiến khác là ở cách làm khác biệt từ triết lý giáo dục ‘Less is More’ của họ.
Nếu Việt Nam muốn triển khai chương trình này thì cần có một chiến lược hành động cẩn thận và từng bước một vì triết lý giáo dục này rất mới đối với xã hội Việt Nam. Hãy coi đó như một startup muốn đưa một công nghệ mới có tính đột phá ra thị trường và thị trường người dùng chưa tin tưởng vào công nghệ này vì nó còn quá mới.
Nếu chúng ta phân tích giáo dục như một hệ sinh thái với các chuỗi cung ứng trong đó đánh giá tất cả các thành viên liên quan có lợi ích và từ cuốn phim về các chú sói ở Yellowstone thì chúng ta có thể nhận ra điều đầu tiên cần phải làm là xây dựng một đội ngũ (không cần lớn) giảng viên xuất sắc được đào tạo bài bản, hiểu rỏ triết lý giáo dục mới và có khả năng triển khai cũng như xây dựng được một môi trường giáo dục mới trong phạm vi nhỏ với đầy đủ tất cả các điều kiện cần thiết.

Thời gian sẽ giúp chúng ta nhân bản.

GS Trương Nguyện Thành


Ký kết

Trước thềm năm học mới, lãnh đạo Bộ GD – ĐT và một số Hiệu trưởng các trường phổ thông, đại học đã có chuyến công tác đến ba nước Bắc Âu (Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch). Trong chuyến đi, đã có 18 biên bản ghi nhớ giữa các trường đại học Việt Nam và các đối tác Phần Lan được ký kết, trong đó có chuyển giao tài liệu về chương trình và sách giáo khoa; chuyển giao công nghệ đào tạo trực tuyến; hợp tác đại học, phối hợp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên…
Tại các buổi hội đàm giữa lãnh đạo Bộ GD-ĐT Việt Nam và Bộ Giáo dục và văn hóa Phần Lan, Bộ Thương mại và phát triển Phần Lan, nhiều vấn đề nằm trong triển vọng hợp tác giữa hai nước cũng được bàn thảo như: khả năng hợp tác về bản quyền xuất bản các sách môn toán, khoa học, tiếng Anh, chương trình STEM; hợp tác trong chương trình đào tạo bậc tiểu học, phổ thông, đại học, thúc đẩy các hoạt động hợp tác, dự án về khởi nghiệp…
Trước những diễn biến như trên, nhiều ý kiến cho rằng có thể Việt Nam sẽ “nhập khẩu” chương trình đào tạo của Phần Lan.

Trong ảnh là buổi gặp giữa Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ với sinh viên Việt Nam tại Phần Lan. Việt Nam hiện đang đứng thứ 2 trên thế giới về số lượng du học sinh theo học tại Phần Lan, với 2.516 sinh viên ở bậc cử nhân và thạc sỹ. Con số này chỉ đứng sau Nga (gần 3.000) và vượt xa Trung Quốc (dưới 600). Một trong những lý do chính thị trường này hấp dẫn là vì Phần Lan từ trước tới nay không thu học phí với sinh viên nước ngoài (mà chỉ cần khoảng 5.000 euro/năm cho chi phí ăn ở). Tuy nhiên chính sách này đã thay đổi và từ năm 2017 trở đi các trường sẽ bắt đầu thu phí với sinh viên ngoài khối EU. Học phí cho du học sinh bậc cử nhân sẽ từ 4.000-12.000 euro/năm cho cử nhân và 4.500-18.000 euro/năm cho thạc sỹ, chưa kể chi phí ăn ở; vẫn rẻ hơn các nước nói tiếng Anh. Theo VNN


TP.HCM: Sẽ có Trường quốc tế Việt Nam – Phần Lan

Bà Trịnh Minh Huyền, Trợ lý hiệu trưởng, Trưởng ban quản lý dự án Trường quốc tế Việt Nam – Phần Lan trực thuộc ĐH Tôn Đức Thắng, cho biết chậm nhất là tháng 11/2017 trường sẽ khởi công xây dựng Trường quốc tế Việt Nam – Phần Lan. Công trình được xây dựng trong khuôn viên Trường ĐH Tôn Đức Thắng (P.Tân Phong, Q.7, TP.HCM) với diện tích 35.000m² sàn; gồm một hầm, một trệt và hai tầng lầu.
Tổng kinh phí đầu tư xây dựng và mua sắm cơ sở vật chất lên đến 350 tỉ đồng. Thiết kế tổng thể, thiết kế xây dựng và thiết kế môi trường sư phạm bên trong công trình này đều do kiến trúc sư Phần Lan thực hiện. “Dự kiến công trình hoàn thành vào đầu năm 2019. Hiện chúng tôi đang thực hiện các khâu chuẩn bị về chương trình, giáo viên, tài liệu, phương pháp giảng dạy, trang thiết bị… để dự kiến tuyển sinh và bắt đầu đào tạo từ tháng 7/2019” – bà Huyền cho biết.
Trường quốc tế Việt Nam – Phần Lan sẽ tuyển học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Năm đầu tiên nhà trường sẽ tuyển sinh từ lớp 1 đến lớp 9 với quy mô 5-6 lớp/khối (20-25 học sinh/lớp). Những năm sau nhà trường sẽ mở rộng tuyển sinh từ lớp 1 đến lớp 12.
Trường sẽ tổ chức giảng dạy đồng thời hai chương trình: chương trình giáo dục Phần Lan (giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh do 100% giáo viên Phần Lan phụ trách) và chương trình giáo dục Việt Nam (giảng dạy bằng tiếng Việt do giáo viên Việt Nam và Phần Lan phụ trách).
Theo lãnh đạo nhà trường, chương trình giáo dục Phần Lan chủ yếu dành cho con em ngoại giao đoàn, người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam và người Việt có định hướng cho con học chương trình phổ thông để nhận bằng tú tài quốc tế.
Còn chương trình giáo dục Việt Nam là chương trình “Phần Lan hóa chương trình Việt Nam”, theo nghĩa chương trình Việt Nam nhưng được giảng dạy theo phương pháp của Phần Lan kết hợp tăng cường tiếng Anh liên tục trong 12 cấp lớp. (TTO)
Theo Thời Đại

admin