Thời thơ ấu của Lý Thành Phương – Kỳ 2: "Trẻ còn ngu dại biết chi"

(Cafe news) – Tôi không biết rõ đã bắt đầu có ký ức từ lúc nào. Cậu tôi là chủ tiệm chụp hình nên gia đình tôi có rất nhiều hình ảnh do cậu ghi lại.
>> Thời thơ ấu của Lý Thành Phương – Kỳ 1: Bước qua lời nguyền
Biệt danh… Năm Le
Tôi thấy có một tấm hình chị Hai tôi, anh An – thứ ba, anh Thái – thứ tư, ngồi trên băng ghế trước cửa nhà, chị Hai em gái thứ sáu tên Thu Khanh, còn tôi thì đang đi ra xa. Tôi hoàn toàn không có chút ấn tượng là tấm hình đó được chụp lúc nào. Anh em tôi có tổng cộng chín người, tôi thứ năm, sau em gái thứ sáu Thu Khanh còn có Tâm, Nhơn, Vũ và Út Hùng.
Tôi ưa thích mặc đồ mới nên anh tôi thường gọi tôi là Năm Le. Nhiều lúc tôi leo rào qua nhà bác Ba Vạn hàng xóm, ở khu đậu xe trong dinh thự của bác để “ ị” và bị bắt gặp, nên được cải biệt danh thành Năm Le “ỉa trịn”. Có lẽ mọi người đặt biệt danh Năm Le cho tôi như vậy cũng đúng lắm. Vì khi còn nhỏ, thỉnh thoảng mẹ tôi dắt tôi đi Long Xuyên trên chiếc tàu đò Lợi Nguyên chở hàng trăm người, khi tàu sắp cập bến thì tôi chạy ra trước mũi, trong bộ quần áo mới, tay cầm cây kèn bằng cao su thổi toe toe để… lấy le với đời.
Ba tôi học hết tiểu học, sau lên Sài Gòn theo học trường Tàu trong một thời gian nên biết viết cả chữ Việt lẫn chữ Tàu. Còn mẹ tôi thì chỉ học đến lớp bốn. Vì vậy, mẹ tôi rất mong muốn chúng tôi được học hành cao hơn. Thời đó không có lớp mẫu giáo, nên mẹ gởi chúng tôi vào trường sớm hơn một tuổi cho quen với không khí lớp học. Đồng thời chúng tôi cũng được học trước cách đánh vần và làm toán.

Đình Thoại Ngọc Hầu


Những người thầy của tôi
Khi tôi được sáu tuổi, mẹ tôi xin gởi tôi vào học lớp năm (lớp một bây giờ) dự thính mà thời đó gọi là “gởi.” Ông hiệu trưởng trường tiểu học Thoại Sơn tên Tám Huệ là dượng (chồng của bà dì họ) của mẹ tôi. Ông Tám rất tốt và hiền lành.
Ổng vừa là hiệu trưởng, người trí thức của làng, vừa là người trưởng tộc mà mọi người đều kính trọng.
Ông Tám Huệ gởi tôi vào lớp năm của thầy Chiễm. Thầy Chiễm nổi tiếng nghiêm khắc. Nếu như không thuộc bài là thầy khẻ mười thước vào bàn tay. Tôi rất sợ thầy nên mỗi khi đến lớp, tôi thường ngồi phía bàn dưới cùng, nơi các học sinh to lớn ngồi, rồi trốn trong góc để thầy khỏi thấy. Có lần thầy khảo bài mà tôi hoàn toàn không biết gì nên tôi trốn dưới gầm bàn, bị thầy bắt được và đánh mười thước vào tay.
Khi về đến nhà, mẹ tôi thấy tay tôi sưng vù nên sáng hôm sau bà dắt tôi lên phòng Hiệu trưởng để mắng vốn. Mẹ tôi nói, con tôi là học sinh gởi đâu có biết gì mà sao thầy thẳng tay quá vậy? Mẹ tôi lúc đó rất tức giận nên ông Tám Huệ phải khuyên thầy xin lỗi mẹ tôi, rồi đổi tôi qua lớp khác.
Tôi được đổi qua lớp thầy Sáng. Thầy Sáng ở cạnh nhà tôi, cũng nghiêm khắc nhưng chừng mực hơn. Thầy để tôi dự thính lớp và không để tâm kiểm bài tôi bao giờ. Khi đủ tuổi lớp năm, tôi tiếp tục học với thầy Sáng. Năm đó tôi học được cách đánh vần và làm toán cộng. Ở lớp thầy mỗi ngày đều chúng tôi đều phải đọc bài Ông thầy đầu tiên.
“Trẻ còn ngu dại biết chi
Nhờ thầy răn dạy khắc ghi trong lòng Mở mang trí hoá cho thông
Uốn tay, sửa miệng, cái công dẫy đầy Nhờ ai ta được thế này
Ta nên nhớ lấy ông thầy đầu tiên”

Cầu Duy Tân (Long Xuyên)


Lên lớp tư (lớp hai bây giờ) tôi học thầy Thiện. Thầy Thiện rất hiền. Tôi chỉ nhớ có lần thầy gọi tôi lên và cho tôi bảng danh dự hạnh kiểm màu đỏ vì thầy nói tôi rất ngoan trong lớp.
Lên lớp ba, tôi học với thầy Sửu. Thầy người ở Kinh E cạnh núi Sập. Thầy rất giỏi và đặt yêu cầu cao với học sinh, nhất là môn vẽ và thủ công. Có lần thầy ra đề vẽ chiếc ghế. Trong nhà tôi có một chiếc ghế dựa làm bằng gỗ rất đẹp nên tôi quyết định vẽ nó. Chiếc ghế này làm bằng gỗ quý đánh véc-ni và được chạm trổ trên lưng ghế hình tranh thủy mặc với dòng sông, ngư ông và cành liễu rủ.
Chiếc ghế ấy gắn bó với tôi nhiều kỷ niệm. Lúc nhỏ, tôi dùng nó để trèo lên bàn kiếm các thứ nước ngọt như: nước cam, xá xị. Nhưng khi đó tôi còn nhỏ quá nên không xê dịch được. Tôi mong ngày nào đó sẽ lớn hơn và sẽ trèo lên dễ dàng hơn, nhưng lại sợ chiếc ghế cũng lớn lên theo và vĩnh viễn tôi không bao giờ trèo lên được. Có một lần tôi lôi được nó vào nhà bếp định bụng ăn cắp các món đồ ăn mẹ để ở ngăn trên. Bị mẹ bắt gặp, tôi chối rằng đi kiếm đồ chơi.
Lần khác thầy Sửu ra bài thủ công xếp lồng đèn. Tôi cố gắng mãi mà không làm được cái nào. Tôi thấy người ta làm lồng đèn khung cây, dán giấy bóng kiếng màu xanh, màu đỏ lại sơn hình rồng, hình chim, con này con nọ. Cũng có chỗ làm lồng đèn xếp xoắn lên xoắn xuống. Nhưng cho dù cố gắng cách mấy tôi cũng không thể bày được một cái.
Đến ngày nộp bài, mẹ phải ra tay giúp tôi làm một chiếc lồng đèn xếp. Lúc đó, bà đã hơn bốn mươi tuổi nên mắt hơi kém. Bà phải ra trước nhà ngồi cho có đủ ánh sáng, vì vậy khi các bạn học đi ngang nhà thấy mẹ giúp tôi bèn méc thầy. Kết quả là tôi bị ăn “ụng” (0 điểm) và bị thầy nện năm cây thước bảng vào lưng.
Ngày hôm sau, mẹ tôi dắt tôi đến tận lớp đối chất với thầy Sửu. Bà nói: “Thầy ra đề như vậy thử nghĩ đứa bé chín tuổi nào có thể làm được? Mấy đứa kia nhà ở xa làm sao thầy biết là nó làm hay cha mẹ nó làm. Thầy thử kêu một đứa lên làm trước mặt tôi xem nó có làm được không?”
Cuối cùng thì thầy Sửu phải xin lỗi mẹ tôi.
(Còn tiếp)
Lý Thành Phương
(Trích tự truyện “Từ dòng Thoại Giang” do Saigon Books & NXB Hội Nhà văn ấn hành, Quý IV, năm 2017) 

admin