Thời thơ ấu của Lý Thành Phương – Kỳ 3: Cây bút Pilot có khắc tên tôi

(Cafe news)- Lên lớp nhì (lớp bốn bây giờ) tôi học với thầy Hiền. Thầy Hiền rất coi trọng môn toán đố. Luật của thầy là nếu được 5/10 trở lên thì thôi, còn nếu 4 điểm thì bị một bê vào tay, 3 điểm hai bê, 2 điểm ba bê, 1 điểm bốn bê, 0 điểm thì năm bê.
>> Kỳ 1: Bước qua lời nguyền

>> Kỳ 2: “Trẻ còn ngu dại biết chi”

Chiếc quần… thủng đít
Lúc đó tôi rất dở toán, lại không có ai kèm để học vì chị Hai, anh An, anh Thái đã ra Long Xuyên, tỉnh lỵ của An Giang, học trung học nên tôi thường bị 2, 3 bê. Tôi bèn đến nhà cô Trinh là bạn học của cô Chín tôi để nhờ cổ chỉ dẫn. Thế là từ đó tôi không bị bê nữa.
Hồi tôi học lớp nhì này, mỗi thứ Hai hàng tuần, trường tiểu học của tôi đều làm lễ chào cờ. Thầy hiệu trưởng cho lớp nhất hay lớp nhì ra ca bài quốc ca và thầy giáo dạy lớp đó sẽ điều khiển, đồng thời hai học sinh trong lớp được ra kéo cờ. Mỗi lần đến phiên lớp tôi thì thầy Hiền đều gọi hai đứa họ Lý là tôi và bạn Lý Kim Hoa, tuổi bằng nhau và vóc dáng cũng ngang nhau.
Khi lên bục cột cờ, tôi và Lý Kim Hoa đứng song song, mặt hướng về nơi thầy hiệu trưởng cùng các thầy, các cô đang ngồi. Sau đó thầy Hiền bảo chúng tôi quay mặt về phía cột cờ để chuẩn bị kéo cờ lên, khi đó chúng tôi quay lưng về phía thầy cô giáo. Có một lần tôi nghe tiếng cười khúc khích của các thầy cô giáo phía sau. Khi vào lớp, thầy Hiền cho tôi biết họ cười vì thấy cái quần xà lỏn đen của tôi bị lủng một lỗ lớn ở mông!
Lên lớp nhất (lớp năm bây giờ), tôi được học lớp thầy Trí. Thầy Trí tốt nghiệp trường sư phạm nên kiến thức rất vững vàng, lại biết cách dạy nên tôi tiến bộ rất nhanh. Đến gần cuối năm, tôi đứng đầu lớp về nhiều môn, nhất là môn làm toán chạy.
Cuối năm lớp nhất, tôi thi đậu kỳ tuyển sinh vào lớp đệ thất (lớp sáu). Thời buổi đó, muốn học lớp sáu thì phải qua kỳ thi tuyển. Chị Hai tôi học rất giỏi mà thi tuyển sinh vào trường công lập Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên cũng bị rớt, phải vào học trường Trung học Tư thục Nguyễn Khuyến ở gần công viên Nguyễn Du. Vào thời đó ở Núi Sập không có trường trung học nên anh An, anh Thái cũng nối gót chị Hai tôi. Chỉ có tôi là đậu đệ thất trường công lập quận. Để khen thưởng, chị Hai tặng cho tôi cây viết Pilot màu nâu có khắc tên tôi trên ấy.
Gia đình tôi vì khá đông con, lại coi trọng học vấn nên sinh hoạt kinh tế khá eo hẹp, thường chỉ đủ ăn mà không mấy dư dả. Lúc tôi còn nhỏ, ba mẹ tôi bán cơm sườn ngoài chợ. Ban đêm tụi tôi chơi cút bắt, sẩy ngựa. Cũng có lúc, tôi lẻn ra chỗ ba mẹ bán cơm và chui vào thùng xe ngủ cho đến khi tan chợ đêm, khoảng 11 giờ khuya mới về đến nhà.
Sau này, ba tôi chuyển qua nghề bán vé số “Kiến thiết quốc gia” với sự phụ giúp của mẹ tôi. Thỉnh thoảng, bà cũng tìm cách làm một vài việc khác để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Chẳng hạn, mẹ tôi mua đu đủ trên núi, về cắt ra từng miếng rồi đưa cho tôi và Thu Khanh đứng bán trước tiệm của Ý Vú ở ngã ba Tây Kỳ. Cũng có lúc bà làm đậu phộng da cá, hay ya-ua (yogurt) ướp lạnh cho hai anh em tôi bán. Qua đó, chúng tôi học được nghề làm ya-ua.

Chùa Bà


Ký ức lễ hội vùng núi Sập
Tuổi thơ của tôi lớn lên được hưởng những phút vui vẻ qua những ngày lễ hội như: rằm tháng Ba, tiết Thanh Minh, mùng 5 tháng Năm, rằm tháng Bảy cúng cô hồn, tết Trung Thu và dĩ nhiên là Tết Nguyên đán. Những giây phút hạnh phúc này, khi qua Mỹ, tôi không còn được hưởng trong cuộc sống tất bật của nền văn minh phương Tây.
Vì Thoại Sơn được gầy dựng do công lao của ông Thoại Ngọc Hầu, cho nên dân trong làng xây một ngôi đền thờ ông rất quy mô. Đền tọa lạc trên một miếng đất lớn, cao hơn mặt đường 7, 8 mét trong một khuôn viên cả chục mẫu đất với nhiều cây cổ thụ. Chúng tôi gọi đền thờ là đình.
Hàng năm, cứ đúng rằm tháng Ba âm lịch đều có cúng đình ba ngày, ba đêm. Mỗi lần như vậy, tất cả hàng quán dưới chợ đều dọn hết lên đây để bán vì trong ba ngày ba đêm này hầu như mọi người đều quanh quẩn nơi đây. Họ nghe hát bội từ sáng đến tối. Có tới cả mười tuồng hát bội nổi tiếng như: Lữ Bố hí Điêu Thuyền, Hoa Mộc Lan, Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, v.v…
Đây cũng là dịp để trai thanh nữ tú hẹn hò, cặp kè nhau rong chơi trong khắp khu đình rộng lớn. Vào buổi tối, người ta nô nức chen chân từ ngoài xa dẫn đến con đường vào đình dài cả trăm mét, rồi lại chen chúc trong khuôn viên, trong đền thờ và trong khu nhà hát.
Hết cúng đình lại đến Thanh Minh. Ở núi Sập, có một con đường gọi là Nhị Tỳ (nghĩa trang). Đây là âm tiếng Tiều (Triều Châu) vì có lẽ trước đây người Triều Châu đến lập nghiệp ở khu vực này sớm nhất. Tôi không thấy có người Cao Miên nào ở vùng này cả. Đa số là người Triều Châu như gia đình chúng tôi sống ở chợ. Rồi người Việt ở ngoại ô và vùng đồng ruộng, người Bắc di cư năm 1954 ở dọc các con kinh như: kinh A, B, C, D, E… rồi kinh 1, 2, 3, 4, 5… dài theo đường đi Long Xuyên và Rạch Giá.
Mỗi dịp Thanh Minh, bà con dòng họ hai bên ba má tôi, cho dù đi làm ăn hay ở xa đến đâu, cũng về sum họp trước một ngày. Đêm đó gia đình tôi phải sắp xếp chỗ ngủ cho mọi người. Tất cả mọi nơi từ ban công trước, ban công sau, hay nhà bếp đều được tận dụng. Có khi họ phải lên trường học, chui vào các phòng học giăng mùng mà ngủ.
Sáng hôm sau, các món đồ cúng như vịt khìa, heo quay, tam sên (thịt luộc, trứng luộc và con tôm càng luộc) được chất vào cái “thung xìa”, là một cái giỏ xách ba ngăn đan bằng mây, đường kính cỡ bảy tấc. Cặp “thung xìa” được gánh bằng một đòn gánh thường dùng để gánh nước. Nghe nói ông nội tôi đã gánh cặp “thung xìa” này chứa lương thực cho chuyến bỏ quê hương Quảng Đông, lội bộ mấy ngàn cây số qua Việt Nam và đến vùng đất núi Sập này.
Chúng tôi lội bộ từ chợ đến Nhị Tỳ. Trên đường, tấp nập người đi tảo mộ, ai ai cũng cười nói vui vẻ với người thân đã lâu ngày không gặp. Chúng tôi đến từng ngôi mộ của tổ tiên, gồm ông bà nội, ông bà ngoại, ông cố, ông sơ gì đó, mà có nhiều bậc tiền bối chúng tôi cũng không biết là ai. Ba mẹ tôi và người trong dòng họ bày đồ cúng ra rồi thắp nhang và sì sụp lạy. Sau đó mọi người chia đồ cúng ra cho chúng tôi được tận hưởng cái hương vị của miếng thịt quay, con tôm luộc mà ngày thường không có.
Mùng 5 tháng Năm có lễ tống gió vì những vong hồn vào đúng ngày này tháng này hay về quấy rối cuộc sống của những người trần tục. Tục lệ này có lẽ do những người Triều Châu đem sang vì tôi thấy trong đoàn tống gió là những người hóa trang thành ông Quan Công, Chu Thương, Quan Bình. Trông họ giống như ba vị trong cái hình ba tôi thờ trên lầu ba mà ba tôi gọi là Ông Bổn.
Ông Quan Công thì ngồi trên kiệu, mông đặt trên lưỡi dao ngắn được gắn phía dưới. Mũi dao chĩa đâm thẳng vào hậu môn. Tôi thấy máu từ hậu môn cứ rỉ ra khi chiếc kiệu được khiêng ngang qua chỗ tôi đứng. Còn hai vị hầu cận ông Quan Công thì mặt được xỏ hai cọng sắt xuyên qua hai cái gò má với cái đầu có treo lục lạc kêu leng keng mỗi khi hai ổng lắc lắc đầu.
Rằm tháng Bảy có lễ cúng cô hồn. Các gia đình khá giả đều có thí vàng. Đồ thí vàng gồm có mía và bánh trái các loại, có khi cả tiền nữa. Riêng chùa Ông Bổn thì tục lệ thí vàng cho người nghèo là xôm tụ nhất. Các vị thầu kê là người làm thiện nguyện trong chùa sẽ đứng phía trên tung lên trời những tấm thẻ bài, giống như thẻ bài xin xăm, trên có ghi các món quà tặng như: một con gà, một con vịt, năm lít gạo, một miếng thịt heo quay.
Trong khi đó, sau dịp Tết Nguyên đán, buổi tối ngày Rằm tháng Giêng âm lịch hằng năm có phần “vay lân” để gây quỹ cho chùa Ông Bổn. Những gia đình Triều Châu vào chùa lạy Ông Bổn. Sau đó họ qua khu vực bên cạnh lãnh một bộ hai con lân làm bằng đường cát trắng. Thí dụ trị giá bán là 10 tiền, ngày này năm tới mang trở lại trả cho chùa 20 tiền.
Rồi lại tiếp tục “vay lân” khác. Chùa dùng tiền lãi để trùng tu, kiến thiết và có quỹ để thí vàng cho dân nghèo ở địa phương. Cuối cùng mọi người được vào bếp lãnh một tô mì sụa. Đó là mì với nước súp đường nấu từ các ông lân bằng  đường.
>> Kỳ 1: Bước qua lời nguyền

>> Kỳ 2: “Trẻ còn ngu dại biết chi”

(Còn tiếp)
Lý Thành Phương
(Trích tự truyện “Từ dòng Thoại Giang” do Saigon Books & NXB Hội Nhà văn ấn hành, Quý IV, năm 2017) 

admin