Thời thơ ấu của Lý Thành Phương – Kỳ 6: Những ký ức không thể nào quên

(Cafe news) – Khi tôi lên lớp đệ ngũ (lớp tám) thì các tên lớp đã được đặt lại. Đệ thất đổi thành lớp sáu, đệ lục thành lớp bảy, đệ ngũ là lớp tám, rồi tới lớp chín, mười, mười một và mười hai.
>> Kỳ 4: Thơm thảo ký ức ấu thơ
>> Kỳ 5: Nhọc nhằn mưu sinh
“Một ngày nào đó em sẽ lên chỗ của thầy”
Trường Trung học Huệ Đức được sự viện trợ của Mỹ đã xây cất xong cơ sở cạnh sân bay. Chúng tôi được đến học tại ngôi trường mới khánh thành. Bấy giờ, giáo viên bắt đầu về trường đông hơn trước. Hiệu trưởng mới là thầy Huỳnh Tấn Đởm, thầy Minh dạy Pháp văn và thầy Yêm phụ trách môn Việt văn. Các thầy đều tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn nên dạy rất giỏi với số vốn kiến thức rất vững chắc. Ngoài ra, có thầy Mã Ngọc Tâm dạy môn Toán và cô Điệp môn Vạn vật là dân Núi Sập mới tốt nghiệp tú tài, tức trung học phổ thông. Còn thầy Lương Trung Trực bị động viên phải nhập ngũ.
Thầy Minh dạy Pháp văn có một cách ôn bài rất thú vị. Thầy ra đề và bắt ai cũng phải trả lời một câu hỏi của thầy. Nếu trả lời đúng thì dời chỗ ngồi lên trên một bàn, còn nếu sai thì dời xuống một bàn. Thỉnh thoảng gặp những câu hỏi khó, trả lời trúng được dời lên hai bàn. Thầy nói mấy em xem lại chỗ ngồi của mình bây giờ, so với chỗ ngồi cũ thì biết mình có tiến bộ hay không. Có một lần tôi đã lên đến bàn đầu rồi, mà còn tiếp tục trúng thưởng nữa. Thầy nói: “Vậy thì một ngày nào đó em sẽ lên chỗ của thầy.” Tôi chợt ước mong sau này tôi cũng sẽ học lên cao để trở thành một người thầy tận tâm và sáng tạo như thầy Minh.
Ngoài môn chánh Pháp văn, thầy Minh còn dạy chúng tôi môn Hội họa. Trong kỳ thi lục cá nguyệt (thi học kỳ) năm đó, sau khi thi xong thầy về quê thăm nhà, mang theo bài vẽ của chúng tôi để chấm điểm. Rủi thay, thầy đã đánh mất toàn bộ bài của chúng tôi. Theo thầy cho biết, thầy bị trộm cái cặp trên chuyến xe về quê. Sau đó thầy cho chúng tôi thi lại với đề tài vẽ tự do. Tôi nhớ hồi đó anh Trần Hữu Thành, còn có biệt danh là Đào Đất Địa, dáng người tròn tròn, thấp như ông địa, vẽ một bức tranh gồm có bốn cảnh:
Cảnh 1: Hình thầy Minh đang ngồi uống trà dưới ánh trăng. Cảnh 2: Có một thư đồng hớt hải chạy ra.
Cảnh 3: Thầy Minh dang hai tay lên trời.
Cảnh 4: Một tên lưu manh đang vác cái cặp mà thầy Minh thường mang đi dạy.
Ở bên dưới anh viết bốn câu thơ minh họa bốn cảnh trên như sau:
Thầy Minh: Đêm nay trăng sáng ngập trời.
Thư đồng: Thầy ơi, vẽ đã mất rồi, thầy ơi!
Thầy Minh: Trời ơi, ai cướp vẽ tôi?
Tên trộm: Lạy trời, của quý, cuộc đời vẻ vang.
Thầy Minh còn độc thân, đẹp trai, nói chuyện chững chạc nhưng hơi thấp người. Mọi người đều thấy là thầy thích cô Điệp vì cổ coi được lắm. Người cổ tròn trịa và tầm thước, có lẽ cao hơn thầy Minh một chút. Tính tình cổ hiền hậu dễ thương. Nếu tôi là thầy Minh chắc tôi cũng thương cổ. Cuối năm ấy, nghe nói thầy Minh đánh tiếng muốn cưới cô Điệp nhưng bị gia đình cổ từ chối. Vì vậy thầy Minh xin đổi về Cờ Đỏ, quê hương của thầy, để quên đi mối tình dang dở với cô Điệp.
Suýt chút nữa thành… nhà thơ!
Thầy Yêm là người Bắc di cư, trong phần chánh tả, thầy dạy chúng tôi cách nghe phát âm và ghi lại, chẳng hạn như: “Sau một đêm ngủ đỗ,” thầy nhấn mạnh và kéo dài chữ “đỗ” để chúng tôi phân biệt được chữ “đỗ” là dấu ngã, “đỗ,” “đỗ” (trong bài Nhành lúa mới, tác giả khuyết danh).
Tôi chép ra đây theo trí nhớ:
“Tôi tới một miền quê kề bên một trận địa vào một buổi chiều hoe nắng. Ở đây, cánh đồng loáng nước nằm dài, vắng bóng người nông dân cần mẫn. Nhìn vào thôn xóm, không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm. Qua một đêm ngủ đỗ1, sáng hôm sau, tôi trở dậy lên đường. Trong ánh nắng ban mai, đố ai biết có gì đổi khác? Nhìn vào thôn xóm, vẫn không một bóng người, vẫn khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm nhưng cánh đồng loáng nước chiều qua đã xanh rì bóng mạ.
Tôi nghĩ đến bóng trăng đêm trước, đến những đoàn người lũ lượt trở về đây, đến những bàn tay mềm mại cấy từng hàng mạ trên dải đồng rộng mênh mông. Trong lúc bom đạn cứ tơi bời trên khắp đô thành và làng mạc, trong lúc chiến tranh cứ tiếp tục gieo rắc tang tóc và đổ nát, thì ở đây, người nông dân Việt Nam vẫn thản nhiên gieo nguồn sống.
Nhành lúa mới như một tuổi xuân vùng trỗi dậy,  tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của cả một dân tộc.”
Thầy còn dạy chúng tôi viết văn xuôi, trong đó thầy thích nhất bài Tôi đi học của Thanh Tịnh.
Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy  tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”
Có hôm, thầy dạy chúng tôi cách nhập đề lung khởi tả anh thương binh. Lung khởi là cách nhập đề gián tiếp, thay vì đi thẳng vấn đề như nhập đề trực khởi. Có anh bạn trong lớp tên Phúc viết như sau: “Ngày hôm qua, mua được chiếc xe Honda, chạy qua ngã ba Châu Đốc, đụng phải một bà bán ốc, bả đòi móc, có một anh thương binh, thấy vậy chạy lại xin”
Một lần khác thầy bảo tả cuốn sách cũ, anh Phúc lại viết: “Ngày hôm qua, mua được chiếc Honda, chạy đụng cái tủ, lòi ra cuốn sách cũ.”
Thầy cũng dạy chúng tôi thơ của Bà Huyện Thanh Quan, rồi thơ Thúy Kiều (Nguyễn Du) với thuyết tài mệnh tương đố. Thúy Kiều sinh ra là một người rất đẹp, lại giỏi cầm kỳ thi họa, một người vừa đẹp vừa giỏi (Sắc đành đòi một, tài đành họa hai), mà có một cuộc đời đầy gian truân và khổ lụy.
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ TÀI chữ MỆNH khéo là ghét nhau
Trải qua mấy cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
Sau này khi lớn lên, mỗi lần nhắc đến bốn câu thơ trên, tụi tôi nói thầy Yêm đã dạy chúng tôi theo lối nhại ý thơ Kiều, như sau:
“Trăm năm trong cõi người ta Chữ TÀI chữ MỆNH còn đâu nữa mà
Mai kia về với ông bà
Núp sau nải chuối, ngắm gà khỏa thân!”
Thầy Yêm còn dạy chúng tôi làm thơ lục bát với vần bằng và luật bằng trắc. Mỗi học sinh đều phải sáng tác hai câu thơ, rồi đọc lên cho cả lớp nghe. Tôi viết:
“Trường tôi có được thầy Yêm
Dáng cao văn giỏi, uy nghiêm vô cùng”
Thầy nói, em coi chừng văn em hay quá, sau này bị tài mệnh tương đố như Thúy Kiều! Vậy là tôi vội xin thầy đổi lại:
“Trường tôi có một thầy Yêm
Cao nhòng, ốm nhách uy nghiêm nỗi gì?”
>> Kỳ 1: Bước qua lời nguyền

>> Kỳ 2: “Trẻ còn ngu dại biết chi”

>> Kỳ 3: Cây bút Pilot có khắc tên tôi
>> Kỳ 4: Thơm thảo ký ức ấu thơ
>> Kỳ 5: Nhọc nhằn mưu sinh
(Còn tiếp)
Lý Thành Phương
(Trích tự truyện “Từ dòng Thoại Giang” do Saigon Books & NXB Hội Nhà văn ấn hành, Quý IV, năm 2017) 

admin