Thời thơ ấu của Lý Thành Phương – Kỳ 7: Gánh mưu sinh làm lệch bờ vai

(Cafe news)- Công việc buôn bán sinh tố của gia đình tôi từ từ đi xuống. Vì thấy công việc này kiếm được tiền nên có nhiều người đua nhau ra làm. Sự cạnh tranh ngày càng cao mà khách tiêu thụ món này lại ngày một giảm, nên không bao lâu sau gia đình tôi quyết định chấm dứt nghề bán sinh tố.
>>Kỳ 6: Những ký ức không thể nào quên
Khởi nghiệp bằng nghề cho thuê truyện
Nhờ vậy tôi mới có nhiều thời gian dành cho việc học hơn. Lúc trước với thầy Tâm, tôi phải học theo rất khó khăn vì không hiểu mấy. Có lẽ tôi đã mất căn bản môn Toán mất rồi! Cho nên tôi quyết định lấy những cuốn sách toán lớp sáu và lớp bảy để ôn lại.
Hằng ngày, sau giờ học buổi sáng, buổi trưa ở nhà, tôi bắc chiếc ghế nhỏ ngồi dưới bộ ngựa (ván đóng bằng gỗ nguyên khối). Rồi tôi miệt mài nghiền ngẫm lý thuyết, đọc bài giải và tìm hiểu tại sao lại giải như vậy. Tôi làm đi làm lại những bài tập, không bao lâu sau tôi có cảm tưởng trình độ toán của tôi đã rất tiến bộ. Tôi có khả năng làm được những bài toán lớp 8 mà tôi chưa hề làm qua.
Một hôm, có dịp đi Long Xuyên chơi, tôi đi bằng tàu đò Lợi Nguyên. Tàu dài khoảng 50 mét, bề ngang chừng 5 mét. Ban lái tàu gồm ba người: tài công ngồi ghế phía trước, bên phải, điều khiển tàu bằng vô lăng giống như tay lái xe hơi; một người thu tiền bán vé; và một tài cải (thợ máy) ngồi phía sau chỗ đặt cái máy tàu. Vì kỹ thuật lúc đó còn thô sơ, nên mỗi lần muốn vô số tới, lên ga, xuống ga, de lại, tài công phải giật cái chuông để ra hiệu cho tài cải điều khiển máy theo ý ông. Beng là chậm, beng-beng là lên ga, beng-beng-beng là vô số de… Khi tàu chạy đều đều rồi, anh tài cải thường chỉ ngồi chờ. Có khi anh phải chờ cả nửa tiếng đồng hồ.
Hôm đó tôi thấy anh tài cải, tên hia Háo. (Hia nghĩa là “anh” theo cách gọi của người Hoa ở miền Tây Nam bộ). Hia Háo là người bà con thân với gia đình tôi, lúc đó ảnh đang xem cuốn Cô gái Đồ Long của Kim Dung. Truyện này tôi đã từng nghe qua vài đoạn trên đài phát thanh vào những buổi sáng sớm. Mỗi sáng vào khoảng 4 giờ, đài phát thanh đọc truyện tiểu thuyết kiếm hiệp. Ba mẹ tôi cũng ghiền tiểu thuyết lắm nên cố gắng thức dậy sớm để nghe kiếm hiệp từ 4-5 giờ sáng rồi ra chợ buôn bán luôn. Ông bà thấy tôi cũng có cùng sở thích nên đánh thức tôi dậy để cùng nghe đọc truyện. Có khi tôi nghe một tiếng đồng hồ, có khi nghe một lúc thì chập chờn ngủ.
Tôi còn nhớ chuyện Người đẹp thành Phiên Ngung và nhớ lõm bõm bộ Cô gái Đồ Long này. Tôi hằng mong là có ngày sẽ được đọc trọn bộ câu chuyện gay cấn đó. Không ngờ hôm nay chính mắt tôi trông thấy một người anh họ thân với gia đình (có nghĩa là tôi có thể mượn cuốn sách kia để đọc) đang cầm cái món bửu bối vô giá ấy trong tay. Tôi liền hỏi ở đâu mà anh có được cuốn truyện này, và ảnh cho biết đã mướn ở Long Xuyên. Thế là tôi hỏi mượn sau khi ảnh đọc xong.
Từ đó cứ mỗi buổi chiều khoảng 5 giờ, tôi chờ tiếng tàu cập bến là đem đổi lấy cuốn kế tiếp. Không bao lâu sau, tôi thấy ngại vì cứ đi mượn hoài nên tôi đề nghị mỗi người trả phân nửa tiền thuê. Hia Háo rất tốt nên không bao giờ tính toán với tôi. Lúc nào ảnh cũng sốt sắng và không bao giờ phàn nàn điều gì cả. Có một hôm tôi tò mò không biết cái tiệm mướn sách lớn nhỏ thế nào, có bao nhiêu cuốn, còn những bộ gì mà tôi chưa biết. Thế là tôi theo luôn hia Háo ra Long Xuyên để biết tiệm thuê truyện. Nơi đó tôi đã gặp ông Sinh, chủ tiệm cho thuê truyện.
Ông Sinh luôn luôn mặc bộ đồ pijama màu ngà, vải dày, sọc xuôi. Sạp của ông ở trước rạp chiếu bóng Tân Đô. Sách truyện bày ở dưới đất dưới một miếng tăng (tent) lớn để che nắng che mưa. Có hàng trăm cuốn truyện, trên gáy của mỗi cuốn có viết tựa truyện, số quyển, để thứ tự trong mỗi thùng dưới đất. Khách thuê thì lăng xăng suốt ngày.
Ông Sinh cho tôi mượn cuốn mục lục, tôi mới khám phá ra rằng sách kiếm hiệp của ông nhiều vô kể, có lẽ cả đời tôi cũng không thể nào xem hết được. Giống như người bị bỏ đói lâu ngày chưa được ăn, tôi mơ ước sẽ đọc tất cả những gì trong cuốn mục lục này. Từ đó về sau, tôi bắt đầu đọc những chuyện do Kim Dung viết. Còn hia Háo đã đọc rồi nên chuyển sang hướng khác, hia chỉ giúp tôi thuê những bộ tôi thích bao gồm: Võ lâm ngũ bá, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Cô gái Đồ Long, Hiệp khách hànhTiếu ngạo giang hồ. Bộ nào tôi thích thì tôi giữ lại và bỏ tiền cọc, vì vậy không lâu sau tôi có được hơn mười bộ.
Lúc đó, bạn bè xung quanh đánh hơi được đến mượn. Tôi chợt nghĩ, tại sao mình không cho họ thuê lại? Thế là tôi tính họ 5 đồng một cuốn, so với giá tôi trả 3 đồng, tôi kiếm lời được 2 đồng. Thương nghiệp cho thuê truyện của tôi phát triển bất ngờ và phát đạt rất nhanh. Nghề dạy nghề, tôi đi thẳng lại nhà sách để mua, thay vì mua lại sách cũ của ông Sinh. Rồi một lần có dịp xuống Vĩnh Long thăm dì Sáu (chị của mẹ tôi), tôi mới khám phá là sách ở đó bán rẻ hơn nhiều, được bớt 30% so với giá ghi trên bìa truyện. Tôi dùng tiền kiếm được mua thêm và mua thêm nữa.
Chị Hai tôi lúc đó đã tốt nghiệp Cao đẳng Thương mại và làm việc cho Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở Sài Gòn. Sau này, chị dắt tôi lại nhà xuất bản Sống Mới ở Sài Gòn, tại đó tôi tha hồ mua sách giá bớt tới 50%. Ba tôi lúc đó mới giúp tôi chánh thức mở thương hiệu mang tên Nhà cho thuê truyện Thành Phương và làm một bảng hiệu dựng trước cửa nhà. Từ đó, tủ sách Thành Phương góp phần vào một nửa kinh tế gia đình bên cạnh việc kinh doanh vé số kiến thiết của ba tôi.
Nặng trĩu bờ vai non
Khi tôi không còn bán sinh tố nữa, ba kêu tôi đi bán vé số. Nhiệm vụ của tôi là mỗi sáng từ 5-7 giờ phụ mẹ tôi bán một bàn ở phía bên kia chợ, sau đó thì đi học. Còn ông thì phụ trách bàn chánh ở giữa chợ. Đến trưa khi tan chợ, mẹ tôi dẹp bàn của bà để về nhà nấu cơm nước cho gia đình. Còn tôi, sau khi đi học buổi sáng về, vừa ăn cơm trưa xong, liền ra trực bán ở bàn của ba tôi.
Về phần ba tôi, sau khi ăn trưa xong, nghỉ ngơi một lát, ông chạy chiếc xe đạp đòn dông (xe thiết kế cho đàn ông chạy) đi bán ở các tiệm cà phê. Tiệm cà phê của bà Hảng là nơi ông ưu tiên đến vì bà Hảng là bạn của ba tôi và cũng vì đó là nơi tụ tập của các danh thủ cờ tướng của Núi Sập, môn giải trí mà ông thích nhất.
Mỗi ngày, sau khi dọn hàng, mẹ tôi phải bê cái bàn về nhà. Bà thường cặp cái bàn bên hông phải, rồi đổi qua hông trái, từ từ đi về nhà. Tôi thấy tội nghiệp cho mẹ nên dù nhỏ con, tôi chui vào cái bàn rồi từ từ cõng lên, tha nó về nhà. Rồi mẹ tôi lại phải vác một cây dù về nữa. Đó là một phát minh “vĩ đại” của ba tôi. Ông nghiên cứu mấy tháng trời, vẽ bản thiết kế, rồi đặt rèn những thanh sắt dẹp ở tiệm rèn của ông Tó, móc vào nhau theo mô hình của một cây dù đi mưa nhỏ. Thế là ông sáng chế ra một cây dù lớn với tầm vóc đủ để che nắng mưa cho một quầy bàn bán vé số, chứa được khoảng bốn, năm người đứng bên dưới.
Cây dù rất đẹp nhưng vấn đề là nó làm toàn bằng sắt nên rất nặng. Thường thì tôi với mẹ tôi khiêng nhưng khiêng thì rất mỏi tay. Sau đó, mẹ tôi vác bên vai. Bà là người lớn biết tính toán, nên cứ đi một đoạn lại đổi bên vai khác cho đỡ bị đau. Tôi thấy vậy nên giúp bà vác cây dù về. Tôi vác nhiều lần rồi cũng quen. Nhưng vì nó nặng quá so với đứa bé nhỏ con mới 14 tuổi nên thường thì tôi phải chạy cho lẹ, không có thì giờ đổi vai như mẹ tôi.

Kết quả là bây giờ vai phải tôi xệ một bên so với vai trái.

>> Kỳ 3: Cây bút Pilot có khắc tên tôi
>> Kỳ 4: Thơm thảo ký ức ấu thơ
>> Kỳ 5: Nhọc nhằn mưu sinh
(Còn nữa)
Lý Thành Phương
(Trích tự truyện “Từ dòng Thoại Giang” do Saigon Books & NXB Hội Nhà văn ấn hành, Quý IV, năm 2017) 

admin