Thời thơ ấu của Lý Thành Phương – Kỳ 8: Biệt danh “Phương kiếm hiệp”

(Cafenews)- Khi học lớp tám, tôi học buổi sáng nên buổi chiều từ 1-6 giờ tôi ra bán ở bàn của ba tôi. Thường thì bán rất ế, mỗi ngày chỉ được hai, ba chục vé. Chỉ có trước hai ngày xổ số thì mới bán đắt hàng thôi.

>>Kỳ 7: Gánh mưu sinh làm lệch bờ vai

>>Kỳ 6: Những ký ức không thể nào quên
Nghề… đánh vật rủi may
Nhưng nghề bán vé số này có một nhược điểm lớn là nếu trong vòng hai ngày trước khi xổ số mà trời mưa thì chúng tôi “ôm sô”. Nghĩa là phải “đánh vật” may rủi với đám vé số bán không được, mà xác suất trúng rất thấp, khoảng trên dưới 25%.
Vì bị ôm xô nhiều lần, đã bị lỗ quá nhiều nên ba tôi phải cẩn thận với số lượng 4.000 vé cố định của ông. Chẳng thà bán hết trước hai ngày xổ số còn hơn là đánh đu với sự may rủi của thiên nhiên. Vì chị Hai, anh An và anh Thái đi học xa, tôi bỗng nhiên trở thành “anh lớn” trong gia đình và cùng chia sẻ gánh nặng với ba tôi.
Qua kinh nghiệm vé số như vậy, sau này lúc nào trong công việc, tôi cũng chuẩn bị trước. Làm việc gì tôi cũng hoàn thành trước thời hạn để khỏi bị hồi hộp “nếu gặp phải trời mưa”. Mỗi buổi trưa, dưới bầu trời nắng chói chang của vùng núi Sập, tôi ngồi dưới chiếc dù, trên bàn với ba cây vé số, mỗi cây có năm tập, mỗi tập 50 tấm.
Bên này đường từ 1 đến 4 giờ không người qua lại, thỉnh thoảng lắm mới có được một vài “con nhạn” lẻ loi đến lựa và mua vài tấm vé số. Bên cạnh bàn của tôi, đến khoảng 3 giờ chiều mới xuất hiện một chị bán bắp và một cô bán chè với hai nồi chè: chè thưng màu vàng và chè đậu trắng màu trắng.
Bên kia đường, nơi buổi sáng họp chợ cá và chợ rau, giờ đã vắng tanh. Dòng sông Thoại Giang vẫn tiếp tục chảy lững lờ. Có khi mang dòng nước xanh đổ vào sông Hậu, lại có lúc mang dòng nước phù sa đục ngầu hay những cánh lục bình đổ ra biển. Bên kia sông là xóm nhà của nông dân với những cây mọc dọc mé sông, nghiêng mình soi trên dòng nước.
Một sự tĩnh lặng, chói chang và nhàm chán tưởng chừng không thể chịu đựng nổi mà tôi phải “ngắm” mỗi ngày, đếm những chiếc thuyền qua lại, đếm những người bộ hành và nhìn vào cặp mắt của họ với hy vọng họ sẽ liếc mắt về bàn vé số của tôi. Lúc không ai mua, tôi phải giết thời gian bằng cách đếm xem bên sông kia có được mấy căn nhà và bao nhiêu cây cối.
Cái cảm giác sung sướng nhất của tôi là khi thấy khói bốc lên từ căn bếp phía sau nhà họ, vì lúc đó tôi biết là đã đến 5 giờ. Vì rảnh rỗi như vậy nên mỗi ngày tôi bắt đầu tập vẽ. Lúc đầu do không chuẩn bị nên tôi dùng viết mực vẽ trên những tấm bìa của cùi vé số, kích thước hình chữ nhật bằng tấm vé số, có màu xanh, màu đỏ, tím hoặc vàng.
Tôi vẽ cô bán chè, tôi vẽ cái chợ trước mặt, rồi vẽ dòng sông Thoại Giang với lục bình, với những con đò xuôi ngược, rồi những mái nhà bên sông, cội cây mé nước, hay khói lam chiều…
Dần dần, những gì trước mắt đã bị tôi vẽ rất nhiều lần, may sao lúc ấy tôi gặp được hia Háo, người tài cải của chiếc tàu định mệnh, vị cứu tinh đã giúp tôi thay đổi cuộc đời. Từ khi được hia Háo cho mượn kinh Kiếm Hiệp, thời gian trôi qua thật là nhanh tưởng chừng như lúc nào cũng không đủ để đọc sách.
Có lúc thầy Minh đi dạy buổi chiều về bắt gặp tôi đang cười khúc khích một mình và nói lại với bạn bè, từ đó họ tặng cho tôi một biệt danh mới là Phương Kiếm Hiệp. Phương Kiếm Hiệp, chủ hiệu tủ sách Thành Phương với tiền bạc rủng rỉnh, lại còn được sự giúp đỡ của em gái thứ sáu Thu Khanh, 13 tuổi, và em thứ bảy Tâm ẹo, 11 tuổi, nhờ vậy có nhiều thì giờ hơn khi lên lớp 9.
“Trận đấu lịch sử”
Lúc ấy, thầy Lương Trung Trực, sau mấy năm thực hiện nghĩa vụ quân sự, đã quay về trường cũ dạy lại môn Toán, Lý, Hóa. Lần này gặp lại, thầy bất ngờ thấy tôi tiến bộ môn Toán nên rất thích tôi và luôn coi tôi như một tấm gương cho cả lớp. Năm đó, lớp tôi làm báo Xuân, tôi sáng tác bài thơ tả con heo để mừng Xuân Tân Hợi.
Thầy tấm tắc khen bài thơ này, đọc đi đọc lại trong lớp và đọc cả cho các lớp khác với thái độ cực kỳ thích thú:
“Biết viết gì đây, biết viết gì
Viết cho Tân Hợi, viết heo quay
Viết xong ta vẽ con heo lớn
Vẽ rồi ta bắt nó đem quay …
Bây giờ ta viết lại cho ngay
Viết ngắn không xong, lại viết dài
Gắng công xây dựng nên tờ báo
Dù ít, dù nhiều nghĩ cũng hay.”
Tôi không những khá Toán, mà những môn khác tôi đều đứng đầu lớp. Tôi chắc mẩm là cuối năm này mình sẽ nhận được phần thưởng hạng nhất. Đối thủ trong lớp tôi chỉ có hai người đáng ngại nhất là cô Hà Kim Tiến, tự là Sò, nhà ở đầu hẻm vào nhà tôi.
Cổ nổi tiếng gạo bài, thuộc làu làu tất cả các môn, kể cả môn Pháp văn. Nhưng tôi vẫn có cảm tưởng tôi giỏi Toán hơn cổ, vì mỗi lần làm Toán chạy, tôi thường nộp trước nhất trong khi cổ vẫn còn đang cắn bút suy nghĩ tại bàn.
Tôi với Kim Tiến dù là bạn học cùng lớp nhiều năm qua nhưng chúng tôi không bao giờ trò chuyện với nhau. Giữa gia đình tôi và gia đình cổ từng trải qua một trận đại chiến. Má của cô ấy, xóm tôi gọi là bà Mùi Nỉ, bán vải và tạp hóa loại đắt tiền ở đầu đường.
Tuy thu nhập khá cao nhưng cách ăn nói và cư xử hay làm mích lòng hàng xóm nên dường như cả xóm đều có ác cảm với bà ấy. Một hôm, em của Hà Kim Tiến là “Tỉ ỉa” lên trường học chơi và vô ý thức kiểu con nít phá giàn phơi khô và làm hư hỏng số cá khô của mẹ tôi.
Bà giận lắm mới xuống nhà bà Mùi Nỉ mắng vốn thì được trả lời là bà ấy cho con bà muốn làm gì thì làm. Mẹ tôi nổi giận mới nói “Tụi bây đừng tưởng là vua xóm này.” Bà Mùi Nỉ trả lời nếu bà là vua thì sao? Mẹ tôi liền sấn tới tát mạnh vào mặt của bà ấy. Rồi thì hai bà vật lộn với nhau, lăn quay trên đất.
Mẹ tôi người vừa vặn nên có lợi thế hơn so với tướng phốp pháp của bà Mùi Nỉ. Bà nắm xoắn đi xoắn lại những lọn tóc trên đầu của bà Mùi Nỉ. Lúc đó ba tôi và anh Thái, đang lúc nghỉ hè, đang sửa chữa đồ đạc trong nhà. Anh Thái lượm một cây kềm chạy lại đập vào đầu bà Mùi Nỉ đến đổ máu.
Còn ba tôi chạy tới đánh tay đôi với ông Lầu Hó, chồng bà Mùi Nỉ. Tôi có tự học chút võ Nhu đạo qua sách vở, dùng những đòn vật để trị ba đứa nhỏ. Thu Khanh đấu với Hà Kim Tiến. Hàng trăm người đã đến cổ vũ trận đấu lịch sử của xóm trường tiểu học.
Cuối cùng tỷ số huề nhau không đều. Kết quả được tuyên bố bởi trưởng chi cảnh sát quốc gia. Hai thủ quân, ba tôi và ông Lầu Hó, được mời lên văn phòng để lãnh bằng khen và bắt tay giảng hòa. Dù rằng đối thủ Lầu Hó đã mạnh tay lót đường cho hai vị cảnh sát trọng tài là trưởng chi và phó chi, nhưng phó chi là hia Phổ, cháu ruột gọi mẹ tôi bằng cô Bảy, đã điều đình với ông trưởng chi để hai đội khỏi phải đá phạt đền!
Đối thủ thứ hai trong lớp là cô Linh Lan bằng tuổi tôi. Dáng người cổ mảnh khảnh, hay mặc chiếc quần lãnh đen với chiếc áo dài xoa trắng ôm quanh chiếc nịt ngực be bé của tuổi dậy thì. Cô ấy ngồi bàn nhất, dãy ngoài, phía cửa ra vào, còn tôi thì ngồi bàn nhì của dãy giữa. Tôi hay liếc qua nhìn cổ mỗi lần chúng tôi xếp hàng vào lớp và đứng chờ thầy cho phép ngồi xuống.
Mùa thi lục cá nguyệt thứ hai (học kỳ hai), thầy Trực có việc khẩn cấp phải về quê ở Long An. Thầy nhờ thầy Mã Ngọc Tâm dạy Toán lớp sáu và lớp bảy làm giám thị dùm môn Toán của thầy. Khi cho đề xong, thầy Tâm thấy có nhiều đệ tử ruột của thầy (thầy Tâm dạy toán lớp tám cho chúng tôi) không làm được mới xuống bàn họ mách nước.
Bỗng nhiên, cái phòng thi của tụi tôi biến thành cái chợ. Người ta nhốn nháo chạy đi chạy lại trao đổi với nhau. Còn tôi cố gắng tập trung để làm, nhưng dù cố gắng cộng trừ nhân chia cách nào đi nữa thì kết quả cũng không ra được số chẵn.
Theo kinh nghiệm thì kết quả làm luôn luôn là số chẵn. Tôi linh cảm không xong rồi thì đã hết giờ. Kết quả Hà Kim Tiến 20/20, Linh Lan 20/20, Phương Kiếm Hiệp 10/20.

Cuối năm ấy Hà Kim Tiến hạng nhất, Linh Lan hạng nhì, Phương Kiếm Hiệp hạng ba.

>> Kỳ 4: Thơm thảo ký ức ấu thơ
>> Kỳ 5: Nhọc nhằn mưu sinh
(Còn nữa)
Lý Thành Phương
(Trích tự truyện “Từ dòng Thoại Giang” do Saigon Books & NXB Hội Nhà văn ấn hành, Quý IV, năm 2017) 

admin