Press "Enter" to skip to content

Vườn quê

(Cafenews)-Vườn quê, nơi trầm tích mảnh hồn thiêng. Vườn quê, võng lá ru giấc trưa thơ bé. Vườn quê, chốn tơ vương hẹn ước cuộc tình chờ. Vườn quê, góc nhỏ buồn vui kiếp người. Vườn quê, miền “trốn tìm” lúc tuổi đời xế bóng. Vườn quê, “Babilon” treo suốt cuộc đời ta…! 
“NGÕ TRÚC QUANH CO KHÁCH VẮNG TEO”
Vườn làm nên sự khác biệt quan trọng nhất cho màu quê, sắc phố. Vườn là trang phục, là trang sức, là không gian mỹ cảm…, làm cho vẻ đẹp của những ngôi nhà hiền hòa, e ấp, điểm thêm nét duyên thầm. Thiếu nó, ngôi nhà dù to mấy, sang mấy, cũng như  chim loan, chim phượng bị vặt trụi lông, khoe ra toàn da với thịt !
Theo Hán tự, “viên” có nghĩa là “vườn”. Chữ “viên” có bộ “vi” bao quanh, hàm ý : Vườn nằm trong khuôn viên thổ cư có chủ, được rào giậu bốn mặt, để phân biệt ranh giới với thổ cư khác. “Công viên”, “Thảo cầm viên”, “Hoa viên”…, “viên” chỉ là danh xưng tao nhã, bản chất của nó không khác gì cái tên cúng cơm đích thị Việt, ấy là “vườn”.
Thời còn thuần nông, ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, do đất chật người đông, hạn điền thổ cư cho mỗi hộ gia đình, bình quân khoảng ba bốn trăm mét vuông. Nhà, bếp, sân, ao, ngõ, chiếm non nửa diện tích, còn lại là vườn. Mảnh vườn tuy không lớn nhưng được xen canh nhiều loại cây ngắn ngày và cây lâu niên. Vườn là hậu phương vững chắc cho con người lúc thiên tai, thời loạn lạc.

Vườn quê không chỉ là cảnh quan, mà còn là “cơm áo, gạo tiền”, là nguồn tài nguyên bất tận, là “lãnh thổ” thiêng liêng của mỗi gia đình. Vườn quê thấp thoáng đời cha, bóng mẹ. Bàn tay cha khai khẩn, bồi đắp móng nền. Bàn tay mẹ vun trồng, tưới tắm. Sản vật từ vườn theo mẹ ra đồng, đến chợ, vào bếp.
Mùa nào rau quả nấy. Mùa hè : Rau muống, rau đay, mướp hương, mít, ổi… Mùa thu : Nhãn, bưởi, rau dền, rau đỗ… Mùa đông : Bắp cải, xu hào, cam, hồng, chuối… Mùa xuân : Rau diếp, cà bát, rau khoai…Những món ăn từ sản vật của vườn bao giờ cũng tươi non, ngon lành.
Vườn Bắc trước đây, thường trồng loại chè vườn. Có những cây chè lâu niên cao hai ba mét, gốc sù sì, rêu mốc trắng. Chè vườn bánh tẻ vừa hái, hãm vào bình tích cùng với dăm lát gừng tươi, sau mươi phút rót ra bát sứ, vừa thổi vừa uống, lại thêm vài củ khoai lang bở, vốc lạc luộc nhâm nhi thì sảng khoái vô cùng. Uống chè xanh thường xuyên nên người xưa răng chắc, mắt sáng, ít béo phì, lại hạn chế được nhiều bệnh nan y như ung thư, tiểu đường…
Những vườn quê ở Bắc Bộ thường được lập nên từ chân ruộng lúa nước. Việc đầu tiên là đào ao để lấy đất lập thổ. Đó là công việc cực kỳ nặng nhọc, đòi hỏi sức khỏe dẻo dai, ý chí bền bỉ và cả ước mơ, khao khát đổi đời. Những gia cảnh nghèo khó, thì người cha, người chồng phải gánh vác việc này. Mai, cuốc, thuổng, quang gánh, gầu dây…, là dụng cụ không thể thiếu cho việc đào ao.
Đào ao lập thổ thường bắt đầu từ mùa đông. Mùa đông phương Bắc tuy lạnh lẽo nhưng hanh khô, nên đỡ công tát nước. Khi mặt bằng thổ cư đã hình thành, xung quanh được bao bọc bởi hàng rào tre hóp hoặc giậu găng, giậu ruối, những cây có sức sống gai góc, bền bỉ vừa để tránh sạt lở đất vườn mỗi mùa bão lũ vừa là cột mốc bảo vệ chủ quyền “lãnh thổ”, nếu chẳng may gặp phải láng giềng sẵn máu bon chen, thừa cơ xâm lấn !
Lập thổ cư được xem là sự nghiệp “khai thiên, lập địa” cho một mái ấm gia đình của những cặp vợ chồng trẻ mới ra ở riêng. Đó là công việc không chỉ tính ngày tính tháng mà kéo dài nhiều năm. Sau khi tới ở, chồng, vợ, con cái vẫn tiếp tục hoàn thiện “vương quốc riêng” của mình. Cốt nền của thổ vườn được bồi dần lên bằng đất ải (đất mặt ruộng phơi nỏ), bùn sông, để không bị ngập nước vào mùa mưa lũ, và tăng thêm độ màu mỡ cho cây trái phát triển.
Vườn quê đồng bằng sông Hồng định hình theo ý tưởng qui hoạch làng xã của Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ, người có công khẩn hoang vùng cửa biển Ba Lạt, khai sinh ra huyện Kim Sơn – Ninh Bình và huyện Tiền Hải – Thái Bình. Trong một thổ cư, vườn, ao, nhà, ngõ được bố trí, sắp xếp thuận tiện cho việc ăn ở, sinh hoạt và phù hợp với phong tục tập quán, hài hòa với khí hậu thời tiết bốn mùa rõ rệt của phương Bắc. Thứ tự : Ao, vườn trước, sân, nhà, vườn sau.
Ngõ từ đường làng, qua cổng, men theo bờ ao và vườn trước, vào sân. Vườn trước liền kề với ao. Vườn trước trồng rau theo mùa, tiện cho việc tưới tắm, chăm bón, thu hoạch hàng ngày. Sát bờ ao trồng chanh, rau đay, bồ ngót, mướp, bầu bí. Giàn bầu bí, giàn mướp dựng bằng tre, đua ra mặt ao vừa để tận dụng đất canh tác vừa để cho một phần mặt ao râm mát. Vườn sau trồng loại cây lâu niên như cau, mít, bưởi, cam, nhãn…
Nhà nằm giữa thổ cư, mặt hướng ra phía Nam, lưng quay về hướng Bắc. Mùa Đông, nhờ những cây lâu niên che chắn, các cửa sổ sau nhà đóng lại, heo may không thể đem giá rét lọt nhà. Mùa hè, gió nồm từ cánh đồng thổi qua mặt ao,  mang hơi nước vào nhà, mát rượi.
Vườn quê là tài sản lớn nhất của người nông dân. Nó là hương hỏa của tổ tiên, là phúc lộc của con cháu. Có những vườn quê được thừa kế từ đời này qua đời khác. Nhiều cây lâu niên thành cổ thụ, thân lớn cả vòng tay ôm không xuể. Gỗ mít mềm, mịn, nhẹ, màu vàng chanh dùng để làm đồ mỹ nghệ, đồ thờ cúng. Gỗ nhãn chắc, cứng dùng làm dăm cối xay, cánh cửa, thớt băm thịt. Gỗ xoan thẳng, dài, dẻo dùng để làm kèo, cột, đòn tay, đóng giường, tủ, bàn ghế…
Vườn quê xa xưa còn gắn bó với bóng tre, dáng trúc. Hầu như vườn quê nào cũng có trúc, có tre. Trúc, tre không chỉ là vật liệu làm nhà, mà còn là vật liệu làm ra hầu hết các công cụ cho nghề nông như đòn gánh, thúng, mủng, giần, sàng…
Tre, trúc được trồng ở bờ vườn có tác dụng như thành quách mỗi khi dông bão. Tre, trúc trồng ở đầu ngõ che nắng gắt ban trưa, treo trăng non đầu tháng. Những hiền nhân quân tử khi sa cơ thất thế, còn được gọi là “về vườn”, thường mượn hình ảnh trúc tre làm bạn tri âm chia sẻ vui buồn.
Vườn quê đúng là nơi “trốn tìm” của con người lúc tuổi đời xế bóng. Về với vườn quê, tuổi già có được không gian yên bình, có được thú vui điền viên, có được người bạn thiên nhiên tri âm tri kỷ. Nguyễn Khuyến từng trải lòng với vườn quê Yên Đổ, qua tuyệt tác “Thu điếu” : “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tý. Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt. Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối ôm cần lâu chẳng được. Cá đâu đớp động dưới chân bèo” !
“VƯỜN AI MƯỚT QUÁ XANH NHƯ NGỌC”             
Vườn quê điển hình nhất ở Việt Nam, có lẽ là vườn Huế. Vườn Huế có nét cổ tích của vườn Bắc, có không gian phóng túng của vườn Nam, có vẻ đài trang của kinh kỳ vàng son một thuở. Hương vị hoa trái trong vườn Huế cũng là hương vị của ba miền góp lại.
Nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Kinh Bắc, măng cụt miền Tây, địa lan Đà Lạt…, và nhiều sinh vật cảnh khác của ba miền cùng hiện diện trong vườn Huế. Tuy nhiên, do thổ ngơi, thời tiết, tập quán khác nhau nên vườn quê ở ba miền vẫn mang dấu ấn cảm xúc riêng biệt. Nếu như vườn Bắc với vẻ dân dã, chân quê, hiền hòa, vườn Nam với không gian rộng mở, phóng đãng thì vườn Huế mang vẻ trầm tư, hoài cổ.
Ngược dòng lịch sử cách nay hơn nửa thế kỷ, khi người Pháp chưa qui hoạch xây dựng khu phố hiện đại ở bờ Nam sông Hương, thì tên gọi cả vùng đất cố đô này, là vườn quê, vườn Huế, vườn Việt, quả không sai.
Đại ngàn Trường Sơn Đông và cửa sóng Thuận An đã hôn phối nên cảnh quan phong thủy độc đáo với sông Hương, núi Ngự, tả Thanh Long (cồn Hến), hữu Bạch Hổ (cồn Dã Viên).
Khi chưa bị làn sóng đô thị hóa xâm hại, vườn Huế bao gồm hàng ngàn mảnh vườn quê dọc hai bờ sông Hương của các vùng quê An Cựu, Kim Long, Vĩ Dạ, Phú Cát, Phú Hội…Những nhà vườn rộng lớn, sang trọng, tập trung nhiều ở Kim Long. Đa số nhà vườn ở Kim Long cũng là phủ đệ của giới quí tộc, thương gia các triều đại phong kiến nhà Nguyễn.
Những mảnh vườn Huế còn lại tương đối nguyên vẹn dáng nét xưa như vườn An Hiên, vườn Lạc Tịnh, vườn Ngọc Sơn, vườn Lan Hữu…, không nhiều. Trong số đó, vườn An Hiên được xem là biểu tượng nguyên vẹn nhất.
Vườn An Hiên có khuôn viên hình vuông, diện tích 4. 609 mét vuông, được xây dựng từ nửa cuối thế kỷ 19, ở thôn Xuân Hòa, xã Hương Long (nay là số nhà 58 đường Nguyễn Phúc Nguyên).

Chủ nhân đầu tiên của vườn An Hiên là con gái vua Dục Đức. Sau đó, vườn An Hiên thuộc về con cháu của đại thần Phạm Đăng Hưng (thời Gia Long)…Đồng sở hữu vườn An Viên hiện nay là bà Phạm Thị Hồng Oanh cùng 4 con đẻ, đang là Việt kiều tại Pháp.
Dấu ấn đầu tiên của nhà vườn An Hiên là cái cổng vòm trang trí hổ phù. Mặt ngoài của cổng có bức cuốn thư đắp nổi. Từ cổng vào tới sân nhà là ngõ dài 34 mét. Ngõ được che phủ bằng những vòm cây mơ trồng hai bên, cành lá đan xen nhau.
Về mùa xuân, mơ nở lộc non, hoa trắng, ngõ An Hiên như thể ngõ hoa chốn thần tiên. Cuối ngõ là bức bình phong, ở giữa là chữ THỌ, hai bên là chữ SONG và chữ HỶ.
Theo thuật phong thủy, bình phong được dựng ở cuối ngõ, cao hơn đầu người, tạo ra lối rẽ, tránh cho ngõ đâm thẳng vào sân nhà. Bình phong có thể dựng bằng gạch, đá, gỗ hoặc bằng một giậu cây (dâm bụt, ô rô, trúc). Bình phong thường có hình ảnh của tứ linh (Long, Ly, Qui, Phụng). Bình phong có tác dụng ngăn chặn tà khí bên ngoài xâm nhập vào nhà vườn.
Giữa sân của nhà vườn An Hiên có hồ hình chữ nhật, thả hoa súng. Từ cuối xuân đến đầu thu, mặt hồ giăng màu đỏ thẫm của hoa súng. Hình như lá súng, hoa súng không sang trọng, đài các bằng lá sen, hoa sen, nhưng vẻ hồn nhiên, lãng mạn, thơ mộng thì sen không bằng súng. Hồ súng ở nhà vườn An Hiên chính là yếu tố “minh đường” trong thuật phong thủy, đặc trưng tiêu biểu trong các phủ đệ của giới quí tộc phong kiến phương Đông.
Kiến trúc trung tâm, nổi bật nhất của vườn An Hiên là ngôi nhà rường ba gian hai chái. Nhà rường này có diện tích 135 mét vuông. Kết cấu khung nhà hoàn toàn bằng gỗ, được đấu nối bằng mộng và đinh tre. Kèo nhà bằng gỗ mít, chạm hoa văn tinh xảo. Đòn tay nhà bằng gỗ kiền kiền. Cột, ván bằng gỗ lim. 48 cột của nhà rường được kê trên 48 phiến đá hình vuông, vừa tạo ra dáng vẻ vững chãi, vừa tránh mục mối chân cột. Mái nhà lợp ngói, bờ nóc đắp rồng chầu, đỉnh mái đắp hoa sen.
Nội thất nhà rường được kiến trúc, bài trí theo tập quán, lễ nghi truyền thống : Gian giữa chỉ để thờ phụng, theo trật tự “tiên phật, hậu linh” (thờ phật phía trước, thờ tổ tiên phía sau) ; hai gian và hai chái hai bên, phân chia theo giới tính “tả nam, hữu nữ” (Nam bên phải, nữ bên trái). Những kỷ vật quí nhất trong nhà rường An Hiên là bút tích thơ của vua Thành Thái và bức trướng “Văn Võ Trung Hiếu” của vua Bảo Đại đề tặng. Sau này, chủ nhân của vườn An Hiên có dựng thêm một ngôi nhà theo lối kiến trúc Pháp để ở và tiếp khách, nhằm bảo tồn nhà rường tốt hơn.
Số phận của nhà vườn An Hiên cũng bể dâu, thăng trầm như những biến cố lịch sử đã xảy ra trên đất cố đô Huế. Nhưng may thay nó vẫn được bảo tồn nguyên  vẹn cho đến hôm nay. Người có công lớn nhất trong việc gìn giữ, tôn tạo vườn An Hiên là bà Đào Thị Xuân Yến (1909 – 1997). Câu chuyện về cuộc tình và cuộc đời của bà Xuân Yến có lẽ cũng là một dấu tích vàng son muôn thuở của vườn An Hiên, của xứ Huế.
Đầu thế kỷ 20, chủ nhân của vườn An Hiên là ông Nguyễn Đình Chi. Ông Nguyễn Đình Chi đỗ cử nhân năm 1912, triều đại Duy Tân, được bổ làm tri huyện An Nhơn – Bình Định.
Những lần đi công cán trong vùng, ông thường thấy mấy cô thôn nữ xách nước mưa từ trong nhà ra đổ ở cái chum sành lớn để ở đầu ngõ. Vào những trưa nắng nóng, khách qua đường dừng chân, tự tay lấy gáo dừa múc nước trong chum uống cho đỡ cơn khát.
Thấy chuyện lạ, quan tri huyện Nguyễn Đình Chi hỏi ra mới biết, nhà có chum nước để đầu ngõ là nhà quan tham biện Đào Thái Hanh, những cô thôn nữ chính là những cô con gái của vị quan nhân từ này. Như duyên trời đã định, trong số các con gái của Đào Thái Hanh, cô chị Đào Thị Xuân Oanh sau này trở thành vợ của quan tri huyện Nguyễn Đình Chi.
Năm 1934, bà Đào Thị Xuân Oanh mất, lúc ấy cô em gái là Đào Thị Xuân Yến đang học trường Đồng Khánh. Một năm sau, năm 1935, ông Chi cưới Đào Thị Xuân Yến làm vợ thứ. Năm 1940, ông Chi mất, cô Yến góa chồng ở tuổi ba mươi.
Dù còn trẻ, lại xinh đẹp, thông minh, nết na, thùy mị, được nhiều hiền nhân quân tử ngỏ lời, nhưng trọng cái tình cái nghĩa với chồng, cái ơn cái duyên nợ với vườn An Hiên, bà Yến đã ở vậy suốt đời, toàn tâm toàn ý chăm sóc, vun vén, giữ gìn cho khu nhà vườn này nguyên vẹn đến bây giờ.
Vốn là nữ sinh học giỏi nhất trường Đồng Khánh, bà Đào Thị Xuân Yến chẳng những thông thạo 3 ngoại ngữ (Pháp văn, Anh văn, Hán văn) mà còn có kiến thức văn hóa sâu rộng, phong cách giao tiếp lịch lãm. Là chủ nhân An Hiên nhưng bà coi di tích vườn Huế này là tài sản văn hóa chung của Huế, của đất nước. Suốt 62 năm, bà Xuân Yến dốc hết tâm sức vun vén, chăm sóc, gìn giữ An Hiên. Bà là một phần hồn cốt, hình bóng của An Hiên ngày nay.
Thống kê mới nhất cho biết, hiện ở Huế còn 2.000 nhà vườn có giá trị văn hóa cần được bảo tồn. Đề án bảo tồn vườn Huế từ năm 2015 đến năm 2020, dự kiến ngân khoản chi cho việc tôn tạo, bảo tồn cho mỗi nhà vườn theo 3 mức : Loại 1 bảy trăm triệu đồng, loại 2 năm trăm triệu đồng, loại 3 bốn trăm triệu đồng. Ngoài ra, ngân hàng còn hỗ trợ lãi suất không % cho nhà vườn nào có nhu cầu vay thêm từ dưới năm trăm triệu. Hy vọng, với đề án này, vườn Huế sẽ được trường tồn cùng với tượng đài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mặc Tử !
“CÓ BAO GIỜ CÙNG TRỞ LẠI VƯỜN XƯA”

Vườn là không gian sinh tồn, là cái nôi chất chứa kỷ niệm của người dân quê từ khi cất tiếng chào đời đến lúc nhắm mắt xuôi tay !
Đứa trẻ vừa sinh ra, nhau rốn được đem chôn ở góc vườn, được tắm bằng nước nấu lá chanh vườn. Khi đã lon ton chân sáo thì vườn là sân chơi, là “thảo cầm viên” của cả quãng tuổi thần tiên. Cau, mít, nhãn phủ lên vườn bóng mát. Bưởi, na, cam tỏa trong vườn hương thơm.
Hoa xoan tháng Ba rải xuống vườn những cơn mưa màu tím nhạt. Chào mào, chim chích, sẻ bông…, cùng hòa ca mỗi sớm ban mai. Vào cuối thu, từng bầy sáo, bầy cò tránh rét từ phương Bắc bay về vườn quê tạm trú. Cò, sáo làm tổ ở ngọn tre, cành nhãn. Chim cái ấp trứng, chim đực kiếm mồi, ríu ran hạnh phúc. Vườn quê như cái tổ ấm hai tầng, tầng dưới của người, tầng trên của bướm, ong, chim chóc.
Với tuổi thơ, vườn quê rộng lớn như một cánh rừng, thỏa sức cho trẻ con săn bắt. Bọ ngựa, cào cào, dế mèn, sâu đo, chuồn chuồn ngô…, trở thành những con thú cưng được chăm sóc chu đáo vừa để chơi vừa để thi thố với bạn bè, thỏa mãn cuộc chơi con trẻ.
Những màn đấu kiếm của bọ ngựa, đấu võ của dế mèn, những màn nhào lộn của “chiếc trực thăng” chuồn chuồn ngô đã buộc chỉ đuôi…, biểu diễn ngày này qua ngày khác, xem vẫn không chán mắt. Vào buổi tối trời, ra vườn bắt mấy con đom đóm bỏ vào chai thủy tinh, thành chiếc đèn thiên nhiên nhấp nháy, cũng làm bớt đi vẻ hiu vắng ở nơi quê kiểng.
Thích nhất là những dịp nghỉ hè. Ba tháng nghỉ hè là thời gian tuổi thơ quấn quít với vườn quê nhiều nhất. Đánh trận giả, đẽo cù găng, lợp diều cánh cốc…, đều được thực hiện ngoài vườn, vừa râm mát, vừa để né mặt người lớn sai vặt.
Sớm tinh mơ đã mò ra vườn tìm những quả ruối chín, những nhụy hoa dong riềng đọng mật, những đọt mía tía mọng sương sau đêm…, tha hồ cắn, mút, nhai, thỏa thích. Gần trưa, chán chơi, lại bày trò bẻ dái mít, sung xanh, mây chín, ổi găng…, những thứ người lớn thường không để ý tới, tống vào bụng cho đỡ đói.
Vườn quê còn là vườn tình của tuổi mới lớn. Ở đó, có cây lá buông rèm che giấu hình bóng gái trai. Ở đó, có thanh điệu của trời đất hòa âm cùng lời tỏ tình mộc mạc. Ở đó, có hương sắc bốn mùa nêm mật ngọt vào bờ môi đôi lứa. Vườn quê thành thơ : “Em nhìn lên vòm cây gió thổi. Lá như môi thầm thì gọi anh về” (Vườn xưa – Tế Hanh). Vườn quê thành nhạc “Chào chiếc lá nằm giữa vườn hoang. Gửi đâu đó một chút tình riêng…” (Vườn xưa – Trịnh Công Sơn).
Vườn quê dù đã là vườn trong phố vẫn là nhịp Ô Thước bắc qua khoảng trời nhỏ, nối bờ yêu thương giữa hai khung cửa sổ “Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ” của “Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp” bởi “Hương bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa” (Hương thầm – Phan Thị Thanh Nhàn) !
Tác phẩm nghệ thuật về vườn quê, lưu trú lâu nhất, vấn vương nhiều nhất trong lòng người có lẽ là truyện ngắn “Dưới bóng hoàng lan” của Thạch Lam. Bài  thơ văn xuôi ấy, cách nay gần thế kỷ, vẫn tươi mát, trinh nguyên hồn quê, tình người.
Hình ảnh đôi trẻ ngày xưa tranh nhau nhặt hoa dưới “bóng cây hoàng lan lay động cả một vùng…”, hình ảnh đôi trẻ đã lớn giữa trưa nắng “Giàn thiên lý pha xanh một bên tà áo trắng… ”, và hình ảnh Thanh vít cành hoàng lan ngắt những đóa hoa non cho Nga làm “nắng soi vào vai hai người nhưng dưới chân đất vẫn mát như xưa”…, vẽ vời nên một vườn quê mộng mị, đẹp như cổ tích.
Đọc văn xuôi mà như cùng lúc được nghe ngâm thơ, nghe ca hát. Hình như, “Dưới bóng hoàng lan”, cùng với “Chuyện tình Lan và Điệp” (Nguyên bản “Tắt lửa lòng”) của Nguyễn Công Hoan, là hai tác phẩm văn xuôi được phổ nhạc thành công nhất.
Nếu đã đọc truyện ngắn của Thạch Lam, thì bạn cũng nên nghe nhạc phẩm “Dưới bóng hoàng lan” của Trần Minh Phi, do ca sỹ Quang Vinh thể hiện, để lòng được trang trải, sẻ chia cùng kỷ niệm vườn quê nước Việt, nơi có “Hoàng lan hương ngát bên nhà. Mà nay bóng em xa rời, xa mãi…” !
Ngô Quốc Túy

Comments are closed.